vanban.org

Quyết định 05/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T. Tại: Cơ sở cai nghiện ma túy số 2.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Phạm Minh T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thời hạn khiếu nại của Phạm Minh T là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động Thương binh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QĐ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T. Tại: Cơ sở cai nghiện ma túy số 2.
  • Căn cứ chính? Luật Phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:05/QĐ-TAC, ngày 05 tháng 5 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH THANH HÓA

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán – chủ tọa phiên họp: Bà Vũ Thị Dung

2. Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Lan

Ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 03/2023/QĐ-TA, ngày 25 tháng 4 năm 2022, đối với:

Phạm Minh T - Sinh ngày 07/6/1991, tại: thị trấn P, huyện C, Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện C, Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; CMND/CCCD số: 038091015653, cấp ngày 02/8/2022, Nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; Con ông: Phạm Tất T, sinh năm 1962, con bà Nguyễn Thị C (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không. Phạm Minh T có mặt.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động Thương binh – xã hội huyện C: Đại diện ông Nguyễn Quyết Chiến – Chuyên viên, có mặt

2. Đại diện Viện kiểm sát huyện C: Bà Lê Thị Cẩm Nhung – Kiểm sát viên, có mặt.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc và biên bản lấy lời khai của Phạm Minh T xác định: Phạm Minh T là đối tượng nghiện ma túy từ khoảng năm 2015 đến nay.

Ngày 28/02/2023, Chủ tịch UBND thị trấn P ra Quyết định số 27/QĐ-UBND Cai nghiện ma túy tại cộng đồng đối với Phạm Minh T, thời hạn 12 tháng, từ ngày 28/02/2023 đến ngày 28/02/2024.

Ngày 10/4/2023 Phạm Minh T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Heroin tại Tổ dân phố Gi, Thị trấn P. Hành vi của Phạm Minh T đã vi phạm vào Khoản 2, Điều 32 Luật Phòng chống ma túy số 73/2021/QH14 ngày 30/03/2021 của Quốc hội.

Kết quả xét nghiệm ngày 11/4/2023 của Trung tâm y tế huyện C xác định Phạm Minh T dương tính với ma túy dạng Heroine.

Ngày 11/4/2023, chủ tịch UBND thị trấn P có văn bản đề nghị xem xét buộc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T.

Tại phiên họp đại diện phòng Phòng Lao động – Thương xã hội huyện C, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên yêu cầu và đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Phạm Minh T vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng.

Ý kiến đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện C: Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T là đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Tòa án nhân dân huyện C thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền. Thẩm phán tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Pháp lệnh “Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân”. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T thời hạn từ 20 đến 24 tháng.

Phạm Minh T xin xem xét thời gian cai nghiện thấp nhất.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, trên cơ sở kết quả thẩm tra tại phiên họp cũng như ý kiến phát biểu của những người tham gia phiên họp. Sau khi đánh giá, phân tích toàn diện, khách quan, đầy đủ các chứng cứ.

XÉT THẤY:

. Xét về thẩm quyền: Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện C đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng nghiện ma túy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15; Khoản 2 Điều 105; Điều 106 Luật xử lý vi phạm hành chính.

. Xét về tính hợp pháp của hồ sơ: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T được lập theo đúng trình tự quy định của pháp luật.

. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ; ý kiến của đại diện Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện C, Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, có đủ cơ sở kết luận: Phạm Minh T, sinh ngày 07/6/1991; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện C, Thanh Hóa là người nghiện ma túy đã được Ủy ban nhân dân thị trấn P tạo điều kiện áp dụng biện pháp cai nghiện tự nguyện tại gia đình, nhưng Phạm Minh T không có ý thức cai nghiện mà còn tiếp tục sử dụng trái phép ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Minh T không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, hạn chế khả năng lao động, giảm sút về kinh tế gia đình, mà hành vi đó còn gây ảnh hưởng đến trật tự trong lĩnh vực quản lý hành chính.Vì vậy, việc lập hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T là cần thiết và có căn cứ, đúng pháp luật. Hiện nay trên địa bàn huyện C tệ nạn ma túy đang là vấn đề nhức nhối được dư luận quan tâm, số lượng người nghiện ma túy và tái nghiện ngày càng gia tăng khó lường. Do đó, cần “Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Phạm Minh T thời hạn 24 tháng. Việc này không chỉ giúp cho Phạm Minh T có điều kiện từ bỏ ma túy mà còn góp phần đảm bảo an ninh trật tự cũng như phòng ngừa tội phạm trong cộng đồng.

Vì các lẽ trên,

- Căn cứ vào Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105; Điều 107; Điều 108 và Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính;

- Căn cứ khoản 2, Điều 32 Luật Phòng chống ma túy số 73/2021/QH14 ngày 30/03/2021 của Quốc hội.

- Căn cứ khoản 1 Điều 3, Điều 8; Điều 23; điều 25; Điều 30; Điều 31 và Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của UBTV Quốc Hội quy định về “Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân”;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T. Tại: Cơ sở cai nghiện ma túy số 2. Địa chỉ: Bản C, xã X, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Phạm Minh T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Thời hạn khiếu nại của Phạm Minh T là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện C là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện C là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an huyện C, tỉnh Thanh hóa chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động thương binh xã hội huyện C, tỉnh Thanh Hóa có trách nhiệm đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ