vanban.org

Quyết định 05/QĐ-TA

TAND huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 31/10/2017 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La đối với anh Lù A V.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi tư) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân hu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lù A V"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La đối với anh Lù A V.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B, TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/QĐ – TAB, ngày 31 tháng 10 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Thái Văn Tùng.

2. Thư ký phiên họp: Bà Đinh Thị Viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 04/QĐ – TA, ngày 20 tháng 10 năm 2017 đối với:

Họ và tên: Lù A V. Giới tính: Nam. Sinh năm 1979;

Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 0/12;

Nguyên quán: Xã L, huyện B, tỉnh Sơn La;

Hộ khẩu thường trú: Bản C, xã L, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La;

Chỗ ở: Bản C, xã L, huyện B, tỉnh Sơn La;

Nghề nghiệp: Trồng trọt;

Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 04/10/2016 bị Ủy ban nhân dân xã L áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn 03 tháng. Con ông: Lù A C (đã chết) và bà: Phàng Thị N. Vắng mặt không có lý do.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lò Đức Toản, Phó trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh Sơn La. Có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La: Ông Hà Văn Thiều, Kiểm sát viên. Có mặt.

NHẬN THẤY:

Ngày 04/10/2016 anh Lù A V bị Ủy ban nhân dân (UBND) xã L áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã nhưng anh V vẫn tiếp tục nghiện và đến ngày 25/9/2017 Công an xã L, huyện B, tỉnh Sơn La lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với anh Lù A V, anh V khai nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà trước khi bị lập biên bản. Tiến hành lấy mẫu nước tiểu của anh V và xét nghiệm chất ma túy, kết quả xét nghiệm: Dương tính (+) với chất ma túy nên Công an xã L đã lập hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để chữa bệnh, lao động và học tập.

Tại Công văn đề nghị số 237/LĐTBXH ngày 17/10/2017 và tại phiên họp đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội trình bày ý kiến: Anh Lù A V là người sử dụng trái phép chất ma túy (từ tháng 8 năm 2016 đến nay), đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng bản thân anhV vẫn không tiến bộ, tiếp tục sử dụng ma túy do vậy đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La đối với anh Lù A V thời gian là 24 tháng.

Viện kiểm sát nhân dân huyện B ý kiến: Tòa án nhân dân huyện B đã thụ lý, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đúng thẩm quyền, thời hạn; Thẩm phán, Thư ký thực hiện phiên họp đúng trình tự tố tụng được quy định tại Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Người bị đề nghị Lù A V vắng mặt không có lý do, việc Tòa án mở phiên họp là đúng quy định của pháp luật; Viện kiểm sát nhân dân huyện B nhất trí với đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện B đưa Lù A V vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Người bị đề nghị anh Lù A V trình bày tại bản tường trình: Bản thân sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 8 năm 2016 đến nay được giáo dục tại xã, đã được vận động điều trị, nhưng sau đó vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, nay nhất trí đi cai nghiện theo đề nghị của cơ quan chức năng.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Lù A V là đảm bảo tính hợp pháp về đối tượng, thời hiệu, thời hạn, thẩm quyền, trình tự thủ tục lập hồ sơ; các tài liệu, chứng cứ, xác minh người nghiện ma túy được thu thập đúng quy định, đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của người bị đề nghị và có căn cứ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 221/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định 136/2016/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 221/2013/NĐ-CP.

Xét về tính chất mức độ, hậu quả của hành vi thấy: Anh Lù A V, sử dụng trái phép chất ma túy (Heroin) là hành vi vi phạm pháp luật về cấm sử dụng trái pháp chất ma túy theo quy định tại khoản 3 điều 3 Luật phòng, chống ma túy; xâm phạm trực tiếp chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã gây hậu quả tác hại cho sức khoẻ, sự phát triển về thể chất, phẩm giá con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác. Do đó, anh V đã bị UBND xã L áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo quyết định số 85/QĐ-UBND ngày 04/10/2016 với thời hạn 03 tháng; chấp hành xong thời hạn nhưng anh V vẫn sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị lập biên bản vi phạm; theo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 26/9/2017 của Trạm Y tế xã L, xác định: Dương tính (+) chất ma túy. Như vậy, anh V đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã mà vẫn còn nghiện, do đó áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La, với thời hạn nhất định nhằm mục đích trị liệu, giúp anh V nhận thức được giá trị của lao động, rèn luyện và phục hồi kỹ năng lao động đã bị suy giảm do nghiện ma túy là cần thiết.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân: Anh Lù A V là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, thực hiện hành vi không có tình tiết tăng nặng. Song anh V là người sử dụng ma túy đã lâu, cần phải có một thời gian dài, đủ để anh V có thể cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng. Quá trình mở phiên họp anh V cố ý trốn tránh, không có mặt theo giấy triệu tập, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai theo quy định, nhưng anh V vẫn không có mặt tại phiên họp, vì vậy Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt anh V theo quy định.

Căn cứ khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 5, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính và các Điều 11, 12, 16, 20, 22, 30, 31 của Pháp Lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ và Nghị định 136/2016/CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị đinh 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La đối với anh Lù A V.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi tư) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện B có quyền kháng nghị quyết định này trong hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định. Anh Lù A V có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày được giao nhận quyết định theo thủ tục hợp lệ.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện B, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện B có trách nhiệm phối hợp thi hành quyết định này.

ơ

THẨM PHÁN

Cỡ chữ