vanban.org

Quyết định 05/2026/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị M:

Tuyên bố ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1958; nơi cư trú cuối cùng: Phòng B Khu E tầng, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết. Ngày chết của ông Nguyễn Thanh S là ngày 02 tháng 12 năm 2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Quyết định tuyên bố ông S chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị M:
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2026/QĐST-VDSTP. Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Huê.

Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Ngọc Thủy- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11- Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Việt C- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11- Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 293/2025/TLST-VDS ngày 29 tháng 10 năm 2025, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2026/QĐST-VDS ngày 17 tháng 4 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1965.

Địa chỉ: Phòng A- 01 Chung cư O, A V, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

Yêu cầu tuyên bố: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1958; nơi thường trú: Phòng B Khu E tầng, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (nơi cư trú cuối cùng) là đã chết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị Minh N, sinh năm 1991; nơi thường trú: Phòng B Khu E tầng, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ hiện nay: 301-28 B, T, Canada (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

+ Ông Nguyễn Tuấn M1, sinh năm 2003; nơi thường trú: Phòng B Khu E tầng, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ hiện nay: Căn hộ R, A N, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, bản tự khai trong quá trình giải quyết, người yêu cầu bà Nguyễn Thị M trình bày:

Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Thanh S là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Đặc khu V- C. Quá trình chung sống, bà M và ông S có 02 con chung là Nguyễn Thị Minh N, sinh năm 1991 và Nguyễn Tuấn M1, sinh năm 2003. Từ tháng 11 năm 2016, ông S đã bỏ nhà đi không rõ tung tích và mất liên lạc cho đến nay. Do vậy, bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Thanh S là đã chết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Minh N và ông Nguyễn Tuấn M1: Bà N và ông M1 là con của bà M và ông S. Bà N và ông M1 đồng ý với yêu cầu của bà Nguyễn Thị M, yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Thanh S là đã chết.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án và giải quyết việc dân sự như sau:

- Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến nay Thẩm phán, Thư ký phiên họp được phân công thụ lý giải quyết đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 363, 365, 367, 369 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ Điều 369, 370 của Bộ luật tố tụng dân và điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11- Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M. Tuyên bố ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1958, nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích là địa chỉ: Phòng B Khu E tầng, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

Lệ phí: Bà Nguyễn Thị M được miễn nộp tiền lệ phí Tòa án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 11- Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

. Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Xét đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị M, xác định đây là việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”. Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết có nơi cư trú cuối cùng tại phường T, Thành phố Hồ Chí Minh nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11- Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 4 Điều 27; điểm a Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Về quyền yêu cầu tuyên bố một người là đã chết: Bà Nguyễn Thị M là vợ của ông Nguyễn Thanh S nên bà M có quyền yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo quy định tại Điều 391 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thủ tục mở phiên họp: Tại phiên họp, người yêu cầu là bà Nguyễn Thị M, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Minh N, ông Nguyễn Tuấn M1 vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành mở phiên họp theo quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về yêu cầu bà Nguyễn Thị M, xét thấy:

Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Thanh S đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Đặc khu V- C vào ngày 02-02-1989. Quá trình chung sống, bà M và ông S có 02 con chung là Nguyễn Thị Minh N, sinh năm 1991 và Nguyễn Tuấn M1, sinh năm 2003. Do ông S đã biệt tích từ tháng 11 năm 2016, không có tin tức xác thực là còn sống nên ngày 27-10-2025, bà M yêu cầu tuyên bố ông S là đã chết.

Sau khi thụ lý giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà M, ngày 03-11-2025, Tòa án nhân dân khu vực 11- Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 02/2025/QĐ-TA và đã thực hiện thủ tục thông báo tìm kiếm ông S theo quy định tại Điều 392, khoản 2 Điều 288, Điều 384, Điều 385 Bộ luật tố tụng dân sự là đăng phát thông tin trên các cơ quan báo, đài. Cụ thể: Đ (các ngày 06,7,8 tháng 11 năm 2025); B (3 số báo liên tiếp các ngày 07, 12 và 14 tháng 11 năm 2025). Hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên nhưng Tòa án vẫn không nhận được tin túc gì về ông Nguyễn Thanh S.

Theo lời khai của bà Nguyễn Thị M thì ông S đã biệt tích từ tháng 11 năm 2016, cho đến nay, gia đình không có tin tức gì của ông S mặc dù đã tìm kiếm nhiều lần.

Căn cứ xác nhận của Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 03-11-2025 thể hiện: “Ông Nguyễn Thanh S có đăng ký thường trú tại Phòng 203/B10 Khu 5 tầng, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, hiện nay ông S vắng mặt đi khỏi địa phương từ tháng 11 năm 2016 cho đến nay, không rõ nơi đến, hiện ở đâu”.

Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự thì người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra Quyết định tuyên bố một người đã chết trong trường hợp sau: “Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật này”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự quy định: “Nếu không xác định được này có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng”.

Từ những căn cứ trên xác định ngày có tin tức cuối cùng của ông S là ngày 01-12-2016. Ngày bà M có đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết là ngày 27-10-2025. Như vậy tính đến thời điểm nộp đơn yêu cầu thì ông S đã biệt tích được trên 05 năm.

Do đó, có cơ sở tuyên bố ông Nguyễn Thanh S là đã chết theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71, khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự. Ngày chết của ông S là ngày 02-12-2021.

Theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Dân sự: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận;

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị M được miễn nộp tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 143, Điều 149, Điều 370, 371, Điều 372, Điều 384; Điều 385; Điều 391; Điều 392; Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị M:

Tuyên bố ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1958; nơi cư trú cuối cùng: Phòng B Khu E tầng, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

Ngày chết của ông Nguyễn Thanh S là ngày 02 tháng 12 năm 2021.

2. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết; Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Đương sự có quyền liên hệ với Ủy ban nhân dân phường T, Ủy ban nhân dân phường V để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

4.Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị M thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

5.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc niêm yết Quyết định. Viện kiểm sát nhân có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.

Cỡ chữ