vanban.org

Quyết định 05/2026/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố ông Bùi Văn H mất năng lực hành vi dân sự.

Bà Nguyễn Thị N là người giám hộ, đại diện theo pháp luật của ông Bùi Văn H, có nghĩa vụ, trách nhiệm sau đây: Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho ông Bùi Văn H Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố Bùi Văn H mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố ông Bùi Văn H mất năng lực hành vi dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 136 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2026/QĐST - DSGia Lai, ngày 16 tháng 6 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - GIA LAI

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Võ Thị Thanh Thúy

Thư ký phiên họp: Ông Diệp Bảo Kiệt - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 7

- Gia Lai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Vinh - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 6 năm 2026 tại Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia lai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 164/2026/TLST - DS ngày 01 tháng 4 năm 2026 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 05/2026/QĐST - DS ngày 04 tháng 6 năm 2026 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964; địa chỉ: Số D đường N, tổ D P, phường P, tỉnh Gia Lai. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Bùi Duy P, sinh năm 1983; địa chỉ: Số D đường N, tổ D P, phường P, tỉnh Gia Lai

- Chị Bùi Thị Trúc V, sinh năm 1985; địa chỉ: Số D đường T, phường D, tỉnh Gia Lai

- Chị Bùi Thị Mỹ P1, sinh năm 1987; địa chỉ: Số D đường N, tổ D P, phường P, tỉnh Gia Lai

- Chị Bùi Thị Ái L, sinh năm 1994; địa chỉ: Số D đường N, tổ D P, phường P, tỉnh Gia Lai

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có mặt

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

1. Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 17 tháng 3 năm 2026, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và tại phiên họp, bà Nguyễn Thị N trình bày: Ông Bùi Văn H là chồng của bà. Năm 2024, ông Bùi Văn H được Bệnh viện C chuẩn đoán nghẽn tắc và hẹp động mạch cảnh, bệnh lý tăng huyết áp, di chứng đột quỵ. Đến tháng 10 năm 2025, ông Bùi Văn H có dấu hiệu nôn ói, khó thở, ngất xỉu, gia đình đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh G cấp cứu, được chuẩn đoán viêm phổi, nhồi máu não, nhiễm trùng huyết, thuyên tắc và huyết khối, suy hô hấp, bệnh lý tăng huyết áp, trào ngược dạ dày thực quản, rối loạn do suy giảm chức năng ống thận, liệt tứ chi…Sau nhiều lần điều trị đặc biệt tại bệnh viện, ngày 07 tháng 01 năm 2026 ông Bùi Văn H xuất viện, điều trị tại nhà. Hiện tại, ông Bùi Văn H phải thở oxi qua nội khí quản, thức ăn được bơm qua đường ống, mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi, không tự sinh hoạt bình thường mà phụ thuộc hoàn toàn vào sự trợ giúp của người khác và hiện bà đang là người trực tiếp chăm sóc ông Bùi Văn H. Do đó, bà yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai giải quyết tuyên bố ông Bùi Văn H mất năng lực hành vi dân sự và xác định bà là người đại diện theo pháp luật của ông Bùi Văn H.

2. Tại phiên họp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Duy P, chị Bùi Thị Trúc V, chị Bùi Thị Mỹ T và chị Bùi Thị Ái L có ý kiến thống nhất như sau:

Các anh chị là con của ông Bùi Văn H và bà Nguyễn Thị N, đều thống nhất với nội dung trình bày và yêu cầu của mẹ ruột bà Nguyễn Thị N, yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố cha ruột ông Bùi Văn H mất năng lực hành vi dân sự và chỉ định bà Nguyễn Thị N là người giám hộ, đại diện theo pháp luật cho ông Bùi Văn H

3. Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai có ý kiến như sau: Tòa án đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về nội dung và hình thức đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự theo Điều 362 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền về loại việc và cấp giải quyết cũng như thủ tục cấp tống đạt văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 27, 35, 39, 170, 175, 177 và Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị N, Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai đã tiến hành trưng cầu giám định về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của ông Bùi Văn H. Trung tâm P2 kết luận: Ông Bùi Văn H mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Tòa án căn cứ vào các Điều 27, 149, 361, 369, 370, 376 và Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 22 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N, tuyên bố ông Bùi Văn H mất năng lực hành vi dân sự, chỉ định bà Nguyễn Thị N là người giám hộ đồng thời là người đại diện theo pháp luật cho ông Bùi Văn H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai nhận định: [1] Bà Nguyễn Thị N là vợ của ông Bùi Văn H yêu cầu tuyên bố ông Bùi Văn H mất năng lực hành vi dân sự, chỉ định người đại diện theo pháp luật (người giám hộ). Yêu cầu của bà N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, ông Bùi Văn H cư trú trên địa bàn phường P nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai theo loại việc, lãnh thổ và cấp giải quyết. [2] Theo Các Giấy ra viện ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Bệnh viện C, ngày 11 tháng 4 năm 2025 của Bệnh viện B1, ngày 16 tháng 5 năm 2025, ngày 07 tháng 10 năm 2025 và ngày 07 tháng 01 năm 2026 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh G chuẩn đoán bệnh của ông Bùi Văn H do di chứng đột quỵ cũ, nhồi máu não, liệt tứ chi, suy giảm chức năng ống thận. Ủy ban nhân dân phường P xác nhận ông Bùi Văn H khuyết tật vận động mức độ đặc biệt nặng và các hàng xóm không có quan hệ thân thích là ông Nguyễn Quang H1 và ông Ngô Văn B xác nhận ông H mất khả năng nhận thức, sinh hoạt cá nhân đều phụ thuộc người khác.

Bên cạnh đó, Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định pháp y tâm thần với ông Bùi Văn H tại Trung tâm P2 với hình thức giám định tại chỗ. Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 26/KLGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2026, trình trạng bệnh lý cũng như năng lực hành vi dân sự của ông Bùi Văn H như sau:

“1.1 Kết luận về y học:

Hiện tại Đương sự bị bệnh: Sa sút tâm thần trong bệnh mạch máu não, mức độ nặng (F01.1-ICD 10)

2.2 Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi:

Hiện tại Đương sự: Mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”

Như vậy trên cơ sở kết luận pháp y tâm thần, Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai có căn cứ nhận định ông Bùi Văn H bị bệnh sa sút tâm thần sau đột quỵ không thể nhận thức, làm chủ được hành vi. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu tuyên bố ông Bùi Văn H mất năng lực hành vi dân sự.

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 53 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Dân sự, ông Bùi Văn H là người mất năng lực hành vi dân sự nên vợ là bà Nguyễn Thị N là người giám hộ đương nhiên đồng thời là người đại diện theo pháp luật của ông Bùi Văn H. Với tư cách là người giám hộ cho ông Bùi Văn H, bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 57 Bộ luật Dân sự, quản lý tài sản của ông Bùi Văn H theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 59 Bộ luật Dân sự.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 27, Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 362, Điều 363, Điều 365, Điều 366, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 377 và Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 1 Điều 22, Điều 53, Điều 57, Điều 59, khoản 2 Điều 136 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án 1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị N.

- Tuyên bố ông Bùi Văn H mất năng lực hành vi dân sự.

2. Bà Nguyễn Thị N là người giám hộ, đại diện theo pháp luật của ông Bùi Văn H, có nghĩa vụ, trách nhiệm sau đây:

- Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho ông Bùi Văn H

- Đại diện cho ông Bùi Văn H trong các giao dịch dân sự

- Quản lý tài sản của ông Bùi Văn H theo quy định tại Điều 59 Bộ luật Dân sự năm 2015

- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Bùi Văn H.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Nguyễn Thị N phải nộp toàn bộ nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0002779 ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Bà Nguyễn Thị N đã nộp đủ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định, người yêu cầu, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc quyết định được thông báo, niêm yết.

Cỡ chữ