- Tranh chấp gì? "Bùi Anh N "đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc""
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Anh N. Tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Phú Yên.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2025/QĐ-TA | Tuy Hòa, ngày 08 tháng 4 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Phan Thị Lệ Siêng
2. Thư ký phiên họp: Võ Đức Vũ Tài
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 06/2025/QĐ-TA ngày 31 tháng 3 năm 2025 đối với:
Đối với: Bùi Anh N, tên khác: không;
Sinh ngày 15 tháng 01 năm 1999; CCCD số: 054099009130 Ngày cấp: 03/10/2024 Nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH;
Nơi cư trú: thôn L, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên;
Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Làm biển. Con ông: Bùi Văn Đôn, sinh năm 1971 và bà: Nguyễn Thị Kim Phượng – sinh năm 1974.
Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị:
- Công an xã A, thành phố T. Có mặt ông Tống Sang N – Phó trưởng Công an xã A, thành phố T.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa: ông Cao Tấn Tiền – kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Từ năm 2023, Bùi Anh N sử dụng trái phép chất ma túy; Từ ngày 19/9/2023 đến ngày 18/3/2024, Nhật cai nghiện ma túy tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy và trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên. Sau khi hoàn thành cai nghiện tự nguyện, vào ngày 29/6/2024, Nhật trình diện tại xã An Phú; Ngày 01/7/2024, Uỷ ban nhân dân xã A, thành phố T đã ban hành Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 106/QĐ-UBND trong thời hạn 01 năm từ ngày ra quyết định. Ngày 24 tháng 3 năm 2025, Trung tâm y tế thành phố Tuy Hòa xét nghiệm đối với Bùi Anh N và kết luận: Nghiện ma túy, dương tính với chất ma túy đá (MET) trong cơ thể. Ngày 24 tháng 3 năm 2025, Uỷ ban nhân dân xã A, thành phố T có biên bản vi phạm số 01/BB-VPHC về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
Với những hành vi nêu trên, Trưởng Công an xã An Phú, Công an tỉnh Phú Yên đã có văn bản số 05/ĐN-CAX-CNBB ngày 27/3/2025 về việc “Xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Bùi Anh N.
Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị (Công an xã An Phú) đề nghị Tòa án xem xét hành vi, mức độ vi phạm hành chính của người bị đề nghị để áp dụng thời hạn cai nghiện bắt buộc thời gian từ 12 tháng đến 18 tháng đối với Bùi Anh N.
Tại biên bản giao nhận ngày 01 tháng 4 năm 2025, người bị đề nghị Bùi Anh N ý kiến: đề nghị giải quyết vắng mặt.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết đảm bảo đúng quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án. Trên cơ sở hồ sơ đề nghị của Trưởng Công an xã An Phú, Công an tỉnh Phú Yên, đã đủ căn cứ để đưa người bị yêu cầu đi cai nghiện tại cơ sở bắt buộc. Căn cứ Điều 95, 96 luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy, đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Anh N trong thời hạn từ 12 tháng đến 18 tháng, thời hạn được tính từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị quản lý tại cơ sở cai nghiện bắt buộc: Ngày 24 tháng 03 năm 2025. Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Phú Yên.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ lưu hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở kết quả tại phiên họp cũng như ý kiến phát biểu của những người tham gia phiên họp. Sau khi đánh giá, phân tích toàn diện, khách quan, đầy đủ các chứng cứ.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xét thấy:
Ngày 18/3/2024, Bùi Anh N kết thúc cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy và trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên; Đến ngày 29/6/2024, Bùi Anh N trình diện tại xã A, thành phố T; Theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 106/QĐ-UBND ngày 01/7/2024 của Ủy ban nhân dân xã An Phú đối với Bùi Anh N trong thời gian 01 năm (từ ngày 01/7/2024 đến 01/7/2025) nhưng vào ngày 24/3/2025 Bùi Anh N lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 24/3/2025 của Trung tâm y tế thành phố Tuy Hòa xác định Bùi Anh N nghiện ma túy loại ma túy đá (MET), là vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy 2021 “Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện”. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của cơ quan đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi tái nghiện trong thời gian quản lý sau cai của Bùi Anh N không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, hạn chế khả năng lao động, giảm sút về kinh tế gia đình, mà hành vi đó còn gây ảnh hưởng đến trật tự trong lĩnh vực quản lý hành chính. Bản thân Bùi Anh N đã tự cai nghiện thời gian 06 tháng, được giáo dục tại xã/phường nhưng vẫn không từ bỏ được chất ma túy. Xét thấy, Bùi Anh N không đủ khả năng để tự mình cai nghiện tại gia đình và cộng đồng, nên cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhằm động viên, giúp đỡ Bùi Anh N học tập, cai nghiện đối với chất ma túy.
Từ các nội dung nêu trên, căn cứ Điều 95, 96, khoản 2 Điều 105 khoản 1 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Điều 20 và Điều 23 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án; Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Chấp nhận đề nghị của Cơ quan đề nghị về việc “Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Bùi Anh N.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Anh N. Tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Phú Yên. Địa chỉ: Thôn Phú Vang, xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 24 tháng 3 năm 2025).
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định.
- Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định.
- Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa có quyền kháng nghị Quyết định trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Phú Yên.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Phú Yên; - Công an xã An Phú, TP. Tuy Hòa; - UBND xã An Phú, TP. Tuy Hòa - VKSND TP. Tuy Hòa - Lưu hồ sơ Hướng dẫn sử dụng mẫu số 09: (1) và (3) Ghi tên Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; cần ghi rõ Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh H). (2) Trường hợp Tòa án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì bỏ cụm từ “(không áp dụng)”. (4) Ghi địa điểm Tòa án tiến hành mở phiên họp (ví dụ: tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh H). (5) Ghi tóm tắt hành vi vi phạm của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; các ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát, người bị đề nghị tại phiên họp. (6) Đánh giá, phân tích của Thẩm phán về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị; đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng; về ý kiến của người tham gia phiên họp; lý do, căn cứ và sự cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người bị đề nghị. (7) Trường hợp Tòa án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì có điểm 2 và điểm 5 phần quyết định; trường hợp Tòa án quyết định không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì bỏ điểm 2 và điểm 5 phần quyết định. (8) Ghi quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị, thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị theo quy định tại các điều 30, 31 và 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. (9) Ghi tên cơ quan có trách nhiệm thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính. | THẨM PHÁN Phan Thị Lệ Siêng |