- Tranh chấp gì? "Lưu Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Lưu Văn T1; giới tính: Nam; sinh ngày 28/02/1964.
- Căn cứ chính? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2025/QĐ-TA | Chiêm Hóa, ngày 04 tháng 02 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH T
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Đào Thị Bích Ngọc.
- Thư ký phiên họp: Bà Hà Thị Vân.
Ngày 04 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, theo Quyết định mở phiên họp số 05/QĐ-TA ngày 22 tháng 01 năm 2025 đối với:
Họ và tên: Lưu Văn T1, tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; sinh ngày 28 tháng 02 năm 1964. CCCD số: xxxxxxxxxxxx; nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về trật tự xã hội - Bộ Công an. Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 07/10; nơi thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã P, huyện C, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lưu Văn T4 và bà Nguyễn Thị G; tiền án, tiền sự: Không. Có mặt tại phiên họp.
* Có sự tham gia của:
- Người đề nghị: Ông Đỗ Minh H, Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nông Quốc T2 - Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh T. Có mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C: Ông Đàm Như H2 - Kiểm sát viên. Có mặt.
NHẬN THẤY:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc, hành vi vi phạm của Lưu Văn T1 được tóm tắt như sau:
Lưu Văn T1 là người trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định tại thôn N, xã P, huyện C, tỉnh T, đang bị áp dụng Quyết định Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng số 26/QĐ-UBND ngày 01/3/2024 của Chủ tịch UBND xã P, với thời hạn cai nghiện từ ngày 01/3/2024 đến ngày 01/3/2025. Ngày 15/01/2025 Công an xã P, huyện C phối hợp với Trạm Y tế xã P, huyện C tiến hành xét nghiệm đối với Lưu Văn T1, kết quả: (+) Dương tính (có chất ma túy trong cơ thể T1). Căn cứ vào kết quả xét nghiệm nêu trên, cùng ngày 15/01/2025, Công an xã P, huyện C đã tiến hành lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy đối với Lưu Văn T1. Quá trình làm việc tại Công an xã P, huyện C Lưu Văn T1 thừa nhận do nghiện ma túy nên ngày 13/01/2025 đã mua ma túy của người đàn ông không quen biết tại khu vực sân bóng thôn N, xã P, huyện C và sử dụng hết bằng cách đốt hít vào cơ thể.
Ngày 20/01/2025 UBND xã P, huyện C đã có văn bản số 03/ĐN-CNBB gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn T1.
Ngày 20/01/2025, ông Đỗ Minh Hải, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C đã có Văn bản số 04/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân huyện C xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T đối với Lưu Văn T1.
Tại phiên họp, người đề nghị - đại diện theo ủy quyền là ông Nông Quốc T2 giữ nguyên nội dung đề nghị Tòa án nhân dân huyện C xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T với thời gian là từ 16 tháng đến 22 tháng theo quy định tại khoản 2 Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính đối với Lưu Văn T1.
Người bị đề nghị Lưu Văn T1 có ý kiến trình bày tại phiên họp: Lưu Văn T1 sử dụng ma túy từ năm 2020, dẫn đến nghiện ma túy. Ngày 01/3/2024 bị UBND xã P, huyện C ra Quyết định Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Khoảng 14 giờ, ngày 13/01/2025, T1 đi đến khu vực sân bóng thuộc thôn N, xã P, huyện C gặp một người không biết tên, địa chỉ mua được 01 gói nhỏ Heroine với giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy T1 sử dụng hết bằng cách đốt hít vào cơ thể. Đến ngày 15/01/2025, Lưu Văn T1 được Công an xã P phối hợp với Trạm Y tế xã P tiến hành xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma túy, kết quả: (+) Dương tính, có chất ma túy trong cơ thể T1, T1 công nhận kết quả trên là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Thẩm phán, Thư ký tuân thủ đúng quy định pháp luật trong việc tiến hành các thủ tục mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và đề nghị Tòa án nhân dân huyện C chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn T1, thời gian cai nghiện bắt buộc từ 16 tháng đến 22 tháng.
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:
Các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn T1 gồm có: Biên bản vi phạm hành chính, phiếu xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể, bản tường trình, biên bản ghi lời khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã đầy đủ, phù hợp với quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính; Luật Phòng, chống ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy.
Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của Lưu Văn T1:
Lưu Văn T1 là người sử dụng ma túy từ năm 2020, đang bị Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 26/QĐ-UBND ngày 01/3/2024 của Chủ tịch UBND xã P, với thời hạn cai nghiện từ 01/3/2024 đến 01/3/2025. Ngày 15/01/2025 Công an xã P, huyện C phối hợp với Trạm Y tế xã P tiến hành xét nghiệm đối với Lưu Văn T1, kết quả: (+) Dương tính (có chất ma túy trong cơ thể T1). Tại bản trường trình Lưu Văn T1 thừa nhận ngày 13/01/2025 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng cách đốt hít vào cơ thể.
Lưu Văn T1 có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, biết việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm, biết tác hại của ma túy đối với trạng thái thần kinh, sức khỏe con người, sử dụng ma túy còn làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và an ninh trật tự, an toàn xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện nhằm thoả mãn cơn nghiện. Quá trình làm việc với cơ quan có thẩm quyền Lưu Văn T1 đã tự nguyện khai báo, chấp hành trong quá trình cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính. Tuy nhiên, Lưu Văn T1 đang trong thời gian cai nghiện tự nguyện mà vẫn sử dụng trái phép chất ma túy, nên căn cứ tính chất, mức độ hành vi vi phạm, mức độ nhận thức, chấp hành của Lưu Văn T1 thấy rằng T1 không chấp hành quy định của pháp luật và không thể tự cai nghiện tại nơi cư trú. Căn cứ Điều 95, 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy xét thấy cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian nhất định mới có đủ tác dụng cai nghiện đối với Lưu Văn T1.
Về ý kiến của người tham gia phiên họp; lý do, căn cứ và sự cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Lưu Văn T1:
Căn cứ vào tính chất mức độ hậu quả của hành vi vi phạm của Lưu Văn T1 như đã nêu trên, Tòa án nhân dân huyện C xét thấy quan điểm đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C là cần thiết và có căn cứ chấp nhận. Do vậy, căn cứ vào các Điều 95, 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn T1 với thời gian trên mức khởi điểm được quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện C có quyền kháng nghị quyết định theo quy định tại các Điều 30, 31, 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ các Điều 95; 96, 105, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ Điều 32 Luật Phòng chống ma túy;
Căn cứ các Điều 23, 30, 31, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ quốc hội Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Lưu Văn T1; giới tính: Nam; sinh ngày 28/02/1964. Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã P, huyện C, tỉnh T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị Lưu Văn T1 có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định. Cơ quan đề nghị được quyền kiến nghị; Viện kiểm sát được quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an huyện C chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C đưa Lưu Văn T1 đi thi hành Quyết định tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T (địa chỉ tại: Thôn An Lộc A, xã An Khang, thành phố T, tỉnh T).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T; - VKSND huyện C (02 bản); - Công an huyện C; - Phòng LĐ-TB&XH huyện C; - UBND xã P, huyện C; - Người bị áp dụng biện pháp XLHC; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đào Thị Bích Ngọc |