- Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Hủy kết hôn trái pháp luật"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Công T, chị Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2023/QĐST-VDS | Tiên Du, ngày 18 tháng 01 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
“V/v Hủy kết hôn trái pháp luật”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Ngô Xuân Phong
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Quế - Thư ký TAND huyện Tiên Du
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên họp: Bà Nguyễn H Giang - Kiểm sát viên.
Ngày18 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 05/2022/TLST-VDS ngày 15 tháng 12 năm 2022 về việc “Hủy kết hôn trái pháp luật” theo Quyết định mở phiên họp số: 05/2023/QĐ- VDS ngày 05/01/2023.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Anh Nguyễn Công Thắng, sinh năm 1972. Có mặt
Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1971. Có mặt
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện Tiên Du, Bắc Ninh
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nhân dân xã M, huyện Tiên Du;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức T - Chức vụ: Chủ tịch UBND xã M, huyện Tiên Du. Xin vắng mặt.
NỘI DUNG
Tại đơn yêu cầu, biên bản ghi lời khai anh Nguyễn Công Thắng, chị Nguyễn Thị H trình bày: Anh chị kết hôn ngày 22/01/1990, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Tiên Du trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc.
Theo căn cước công dân và giấy xác nhận thông tin về cư trú anh T sinh ngày 23/5/1972. Còn chị H sinh ngày 15/4/1971 và tên là Nguyễn Thị H.
Do hiểu biết pháp luật hạn chế nên anh T, chị H không biết anh T không đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng để được kết hôn nên anh T đã khai không đúng ngày/tháng/năm sinh để đủ tuổi kết hôn.
Trong giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/01/1990 (Quyển số I, số 31) có ghi Nguyễn Công T, sinh năm 1970 và Nguyễn Thị Thu H sinh năm 1971 là không đúng năm sinh thực tế của anh T và tên đệm của chị H. Do để được kết hôn nên anh Tđã khai không đúng năm sinh của mình để đủ tuổi kết hôn. Tại thời điểm kết hôn ngày 22/01/1990 anh Tsinh ngày 23/5/1972 mới được 17 tuổi 8 tháng 01 ngày là chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật. Do vậy, anh Tvà chị H cùng thống nhất làm đơn yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh chị và công nhận anh Tvà chị H là vợ chồng tại thời điểm anh Tđủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp anh Tvà chị H đều thừa nhận việc kết hôn khi anh Tchưa đủ tuổi là vi phạm pháp luật và cùng đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiên Du công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Thắng, chị H tại thời điểm anh Tđủ tuổi theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
UBND xã Minh Đạo trình bày: Theo sổ đăng ký kết hôn năm 1990, quyển số I, số 31 thì hồ sơ đăng ký kết hôn của anh Nguyễn Công Tvà chị Nguyễn Thị H UBND xã không còn lưu giữ. Theo tài liệu anh Tcung cấp anh Tsinh ngày 23/5/1972 không phải là sinh năm 1970 theo Giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ thông tin anh Tcung cấp thì tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 22/01/1990 anh Tchưa đủ tuổi kết hôn theo quy định.
Nay anh Thắng, chị H cùng có đơn yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận anh Thắng, chị H là vợ chồng tại thời điểm anh Tđủ tuổi kết hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng giải quyết việc dân sự, thư ký tại phiên họp đã tuân theo đúng các quy định của chương XXIII Bộ luật tố tụng dân sự về Thủ tục giải quyết việc dân sự; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 68,70 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về phần nội dung: Căn cứ Khoản 6, Điều 3, Điều 8, Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 5, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 1986, Điều 2,3,4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016, Điều 29, 35, 39, 362, 365 và Điều 366 BLTTDS, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016: Đề nghị Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Nguyễn Công Tvà chị Nguyễn Thị H; công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Công Tvà chị Nguyễn Thị H từ thời điểm từ ngày 23/5/1992.
Kiến nghị phòng ngừa, tuyên truyền phổ biến về việc tuân thủ đúng quy định về điều kiện đăng ký kết hôn.
Anh Thắng, chị H không phải chịu lệ phí sơ thẩm;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Công Tvà chị Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/01/1990 của UBND xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Anh Tvà chị H có đơn yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Thắng, chị H. Căn cứ khoản 1 Điều 29; điểm b, khoản 2 Điều 35 và điểm g khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc anh Thắng, chị H yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du;
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng để các đương sự tham gia phiên họp. UBND xã M, huyện Tiên Du là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiếp tục mở phiên họp theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung yêu cầu:
Theo anh Ttrình bày tại thời điểm làm thủ tục đăng ký kết hôn, anh đã khai sinh năm 1970 để được xác nhận tình trạng hôn nhân và kết hôn với chị H. Theo Căn cước công dân, xác nhận thông tin về cư trú của anh Nguyễn Công Tthể hiện anh Tsinh ngày 23/5/1972. Mặt khác, theo Sổ đăng ký kết hôn của UBND xã M không còn lưu giữ hồ sơ cấp giấy đăng ký kết hôn năm 1990 của anh Thắng, chị H nhưng tại Giấy chứng nhận kết hôn thể hiện thể hiện tại thời điểm đăng ký kết hôn năm 1990 anh Tsinh năm 1972 chứ không phải sinh năm 1970 và chị H họ và tên là Nguyễn Thị H chứ không phải Nguyễn Thị Thu H. Ngoài ra, quá trình giải quyết UBND xã Minh Đạo xác nhận anh Nguyễn Công Tsinh năm 1970 và anh Nguyễn Công Tsinh năm 1972 là một người; chị Nguyễn Thị H sinh năm 1971 và chị Nguyễn Thị Thu H sinh năm 1971 là một người.
Như vậy, tại thời điểm năm 1990 khi đăng ký kết hôn anh Tmới được 17 tuổi 08 tháng 01 ngày là vi phạm điều kiện kết hôn về độ tuổi kết hôn theo quy định tại Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986: “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn”.
Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Công T, chị Nguyễn Thị H hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Nguyễn Công T, chị Nguyễn Thị H.
Đối với yêu cầu của anh Thắng, chị H đề nghị công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Thắng, chị H tại thời điểm anh Tđủ điều kiện kết hôn.
Xét yêu cầu của anh Nguyễn Công T, chị Nguyễn Thị H thấy: Anh Nguyễn Công T, chị Nguyễn Thị H hiện đang sống chung hòa thuận hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì và anh Thắng, chị H đều đề nghị Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân của anh Thắng, chị H. Căn cứ khoản 2 Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: “Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này” và hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 cần công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Công Thắng, chị Nguyễn Thị H từ ngày 23/5/1992 khi anh Nguyễn Công Tđủ tuổi đăng ký kết hôn.
Về lệ phí: Căn cứ quy định tại điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Tòa án thì anh Nguyễn Công Thắng, chị Nguyễn Thị H không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 367; Điều 370, Điều 371; Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 5,9 Luật hôn nhân gia đình năm 1986; Điều 8, Khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Công T, chị Nguyễn Thị H.
Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Nguyễn Công Thắng, chị Nguyễn Thị H (Giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/01/1990 do Ủy ban nhân dân xã Minh Đạo, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc (nay là UBND xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) cấp”.
Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Công Thắng, chị Nguyễn Thị H kể từ ngày 23/5/1992.
Anh Nguyễn Công Thắng, chị Nguyễn Thị H có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc ghi chú vào Sổ hộ tịch theo Luật hộ tịch.
2. Về lệ phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Công Thắng, chị Nguyễn Thị H không phải chịu lệ phí sơ thẩm;
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định hoặc kể từ ngày Quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh có quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.
| Nơi nhận: -VKSND huyện Tiên Du; - Chi cục THADS huyện Tiên Du; - UBND xã M; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án./. | THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Ngô Xuân Phong |