vanban.org

Quyết định 05/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Trương Ngọc Đ;

Tuyên bố chị Trương Thị Hồng P, sinh ngày 08/10/1993; địa chỉ: Số I đường N, Tổ H, Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương bị mất năng lực hành vi dân sự. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Trương Ngọc Đ được miễn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Trương Ngọc Đ;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 22 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2023/QĐST-VDSThủ Dầu Một, ngày 16 tháng 6 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Trường.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 09/2023/TLST-VDS ngày 27/4/2023 về việc “yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2023/QĐST-VDS ngày 06 tháng 6 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Ông Trương Ngọc Đ, sinh năm 1959; địa chỉ: Số I đường N, Tổ H, Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Trương Thị Hồng P, sinh năm 1993; địa chỉ: Số I đường N, Tổ H, Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

+ Bà Phạm Thị A, sinh năm 1957; địa chỉ: Số I đường N, Tổ H, Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Người yêu cầu ông Trương Ngọc Đ trình bày: Ông Đ và bà Phạm Thị A là cha, mẹ ruột của chị Trương Thị Hồng P; từ lúc sinh ra đến nay, chị P đã bị khuyết tật, mức độ đặc biệt nặng, không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, các sinh hoạt cá nhân đều cần trợ giúp của người thân trong gia đình. Nay, ông Trương Ngọc Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Trương Thị Hồng P bị mất năng lực hành vi dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Phạm Thị A trình bày: Thống nhất với ý kiến và yêu cầu của ông Trương Ngọc Đ.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần số 398/KL-VPYTW ngày 01/6/2023 của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương B, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Trương Ngọc Đ, tuyên bố chị Trương Thị Hồng P bị mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một nhận định:

Về tố tụng: Ông Trương Ngọc Đ và bà Phạm Thị A có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, căn cứ Điều 367 và Điều 369 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo thủ tục chung.

Về nội dung: Ông Trương Ngọc Đ có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Trương Thị Hồng P mất năng lực hành vi dân sự, vì cho rằng chị P từ lúc sinh ra đến nay không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Theo giấy khai sinh số 302, quyển số 01 ngày 16/10/1993 do UBND xã (nay là phường) H cấp cho chị Trương Thị Hồng P thể hiện: Ông Trương Ngọc Đ và bà Phạm Thị Á là cha mẹ ruột của chị Trương Thị Hồng P. Ngoài ra, chị P không có chồng, con.

Quá trình giải quyết yêu cầu, Tòa án đã trưng cầu giám định để xác định năng lực hành vi dân sự của chị P. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 398/KL-VPYTW ngày 01 tháng 6 năm 2023 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B đã kết luận: “Về y học: Hiện nay đương sự bị bệnh chậm phát triển tâm thần nặng/động kinh (F72/G40-ICD.10). Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Hiện nay đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Căn cứ vào kết luận giám định nêu trên, có cơ sở để xác định chị Trương Thị Hồng P bị mất năng lực hành vi dân sự; do đó, cần chấp nhận yêu cầu của ông Trương Ngọc Đ.

Ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Trương Ngọc Đ là đúng pháp luật.

Về lệ phí sơ thẩm: Do ông Trương Ngọc Đ là người cao tuổi, nên được miễn nộp lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 367, 369, 370, 371 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự

Căn cứ Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Trương Ngọc Đ;

Tuyên bố chị Trương Thị Hồng P, sinh ngày 08/10/1993; địa chỉ: Số I đường N, Tổ H, Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương bị mất năng lực hành vi dân sự.

2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Trương Ngọc Đ được miễn.

3. Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được niêm yết.

Cỡ chữ