- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Nguyễn Văn Khái"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của người yêu cầu là bà Nguyễn Thị T: Tuyên bố ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1960, nơi cư trú cuối cùng: Khu dân cư C1, phường C2, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương là đã chết.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2023/QĐST - VDS | Chí Linh, ngày 20 tháng 7 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Đào Thị Hậu.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Anh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị Lệ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 08/2023/TLST - VDS ngày 20 tháng 02 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 04/2023/QĐST - DS ngày 11 tháng 7 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1957; địa chỉ: Làng G, xã I, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu: Ông Đặng Thái L, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu dân cư T2, phường S, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Có mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1960; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Khu dân cư C1, phường C2, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt;
+ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1986; địa chỉ: Làng G, xã I, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu là bà Nguyễn Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H thống nhất trình bày:
Ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị T kết hôn với nhau năm 1983 và chung sống với nhau ở khu dân cư C1, phường C2, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Ông K và bà T có 01 con chung là anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1986. Ông K, bà T không có con riêng. Trong quá trình chung sống, gia đình phát hiện ông K có biểu hiện về thần kinh không ổn định, thường xuyên chửi bới, đánh đập người thân. Nhiều lần gia đình đưa ông K đi chữa trị ở bệnh viện nhưng ông K vẫn không tiến triển sức khỏe tốt. Đến năm 1993, bà T và anh H về quê của bà T ở khu dân cư Th, phường Đ, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương sống. Đến năm 1995, bà T cùng anh H chuyển đến tỉnh Lâm Đồng sống. Đến năm 2000 ông K bỏ nhà đi khỏi địa phương. Từ đó đến nay ông K không liên lạc với gia đình, người thân và địa phương. Gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm ở nhiều nơi, trong đó đã phát và đăng tin trên đài tiếng nói Việt Nam và báo Công lý nhưng vẫn không có thông tin của ông K. Nơi cư trú cuối cùng trước khi ông K bỏ đi là khu dân cư C1, phường C2, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Từ thời điểm Tòa án ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về ông K cho đến nay gia đình bà T và anh H vẫn không nhận được tin tức gì của ông K. Nay bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông K là đã chết, anh H nhất trí với yêu cầu của bà T. Do điều kiện nơi sinh sống xa xôi nên bà T và anh H đều xin được vắng mặt tại phiên họp.
Kết quả xác minh tại khu dân cư C1, phường C2 và Ủy ban nhân dân phường C2, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương thể hiện: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1960; đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu dân cư C1, phường C2, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, là con cụ Nguyễn Văn T1 và cụ Mạc Thị D (đều đã chết) kết hôn với bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1957; hộ khẩu thường trú hiện nay: Làng G, xã I, huyện Chư P rông, tỉnh Gia Lai năm 1983. Ông K và bà T có 01 con chung là anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1986; hiện đang thường trú tại: Làng G, xã I, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Ngoài ra ông K không có con riêng, con nuôi. Ông K sinh ra, lớn lên và thường trú ở địa phương. Đến năm 2000 ông K bỏ đi khỏi địa phương, đến nay địa phương không có tin tức gì của ông K. Nơi cư trú cuối cùng của ông K trước khi bỏ nhà đi biệt tích là: Khu dân cư C1, phường C2, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Tại Công văn số 10358/QLXNC-P5 ngày 05/5/2023 của Cục quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an xác định: Không có thông tin cấp hộ chiếu và xuất nhập cảnh của trường hợp Nguyễn Văn K.
Tại phiên họp:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu giữ nguyên nội dung yêu cầu của người yêu cầu giải quyết việc dân sự, đề nghị Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn K là đã chết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự đã đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết: Đề nghị Toà án: Áp dụng khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, khoản 2 Điều 385, Điều 391 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị T, tuyên bố ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1960; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Khu dân cư C1, phường C2, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương là đã chết. Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông K được giải quyết như đối với một người đã chết. Về chi phí đăng tin: Bà T có nghĩa vụ phải chịu chi phí đăng tin theo quy định của pháp luật. Về lệ phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Toà án nhân dân thành phố nhận định:
Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1960; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Khu dân cư C1, phường C2, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương là đã chết. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh thụ lý, giải quyết việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; đểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên họp vắng mặt người yêu cầu là bà Nguyễn Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H nhưng bà T và anh H đã có đơn xin vắng mặt. Do vậy, Toà án căn cứ vào Điều 361, Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành phiên họp theo thủ tục chung.
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bà Nguyễn Thị T có xác định người liên quan là: Ông Nguyễn Văn Th1, ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Th2 - là anh, chị ruột của ông K. Tuy nhiên, quá trình giải quyết việc dân sự, ông Th1, ông Đ và bà Th2 đều không có yêu cầu gì trong việc dân sự nên Tòa án xác định ông Th1, ông Đ và bà Th2 không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung yêu cầu của người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có cơ sở xác định ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1960, có bố mẹ đẻ là cụ Nguyễn Văn T1 và cụ Mạc Thị D (đều đã chết); địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Khu dân cư C1, phường C2, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương bỏ nhà đi từ năm 2000. Sau khi ông K bỏ nhà đi, gia đình đã tìm kiếm công khai nhưng không có tin tức ông K còn sống. Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết; đã đăng, phát Quyết định trên đài tiếng nói Việt Nam, báo Công lý 03 số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, Cổng thông tin điện tử Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương; niêm yết tại nơi cư trú cuối cùng của ông K và gửi Công văn đến Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an để tìm thông tin về việc xuất nhập cảnh của ông K theo quy định tại Điều 384, Điều 385, Điều 388, Điều 392 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm ông K lần đầu tiên (09/3/2023), Tòa án, địa phương và gia đình bà T vẫn không nhận được tin tức của ông K.
Bà T, anh H và địa phương không xác định được cụ thể ngày, tháng biết được tin tức cuối cùng của ông K là ngày, tháng nào mà chỉ xác định được năm ông K bỏ đi khỏi địa phương và gia đình, địa phương không có tin tức gì của ông K là năm 2000 nên căn cứ vào khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự xác định thời gian ông K bỏ đi biệt tích là ngày 01/01/2001.
Thời gian biệt tích của ông K là từ ngày 01/01/2001, tính đến nay đã hơn 05 năm liền và không có tin tức xác thực ông K còn sống. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự, xác định yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc tuyên bố ông Nguyễn Văn K là đã chết là có căn cứ được chấp nhận.
Do ngày ông K bỏ đi biệt tích là ngày 01/01/2001 nên xác định ngày chết của ông K là ngày 02/01/2006.
Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn K là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông K được giải quyết như đối với một người đã chết. Tài sản của ông K được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Bà Nguyễn Thị T phải chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định tại khoản 2 Điều 385 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về lệ phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T là người yêu cầu giải quyết việc dân sự nên phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, do bà T là người cao tuổi và đã có đơn xin miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự nên cần miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho bà T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của người yêu cầu là bà Nguyễn Thị T: Tuyên bố ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1960, nơi cư trú cuối cùng: Khu dân cư C1, phường C2, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương là đã chết.
Ngày chết của ông Nguyễn Văn K được xác định là ngày 02/01/2006.
2. Kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn K là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Nguyễn Văn K được giải quyết như đối với một người đã chết. Tài sản của ông Nguyễn Văn K được giải quyết theo quy định của pháp luật thừa kế
3. Bà Nguyễn Thị T phải chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là 3.000.000 đồng. Bà T đã nộp đủ chi phí.
4. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày niêm yết quyết định. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND TP Chí Linh; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS TP Chí Linh; - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Ủy ban nhân dân phường Chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP Đào Thị Hậu |