- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Phạm Văn C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu của ông Phạm Văn C về việc tuyên bố bà Phạm Thị M, sinh năm 1958; nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố C, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình đã chết.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2023/QĐST-VDS | Ba Đồn, ngày 30 tháng 11 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Tuyên bố một người là đã chết
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần phiên họp giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Tưởng Thị Hà
Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Kiều Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã B mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 05/2023/TLST-VDS ngày 27 tháng 6 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 05/2023/QĐST - VDS ngày 22 tháng 11 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1983
Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1958
Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố C, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình
3. Những người làm chứng:
- Bà Phạm Thị X, sinh năm 1969; nơi cư trú: Khu phố 5, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt
- Bà Phạm Thị L, sinh năm 1971; nơi cư trú: Khu phố 3, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt
- Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo nội dung của Đơn yêu cầu ngày 08/6/2023, Bản tự khai, quá trình chuẩn bị xét đơn yêu cầu và tại phiên họp, người yêu cầu anh Phạm Văn C trình bày:
Anh là con trai của bà Phạm Thị M. Khoảng 20 năm trước mẹ anh bị bệnh tâm thần, sau quá trình điều trị không thuyên giảm nên bệnh viện đã trả về sinh sống tại phường Q. Đến tháng 12/2009, mẹ anh đã bỏ nhà đi, gia đình đã tổ chức tìm kiếm khắp nơi, từ Bắc vào Nam, đăng tin trên truyền hình nhưng vẫn không có tin tức gì của mẹ là bà Phạm Thị M. Từ đó đến nay đã gần 14 năm, mặc dù gia đình đã nỗ lực tìm kiếm nhưng vẫn không có thông tin gì của bà Phạm Thị M. Nay anh làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân thị xã B tuyên bố bà Phạm Thị M là đã chết.
Kết quả xác nhận của UBND phường Q, lời khai của bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị L (em gái của bà Phạm Thị M), anh Phạm Văn Đ (con trai bà Phạm Thị M) đều xác nhận: Từ khi bà M bỏ nhà đi cho đến nay, gia đình đã nỗ lực tìm kiếm bà M trong nhiều năm nhưng đều không có tin tức gì của bà M. Như vậy, kể từ ngày bà M bỏ đi khỏi địa phương cho đến nay đã gần 14 năm nhưng không có tin tức xác thực là bà M còn sống hay là đã chết.
Tại phiên họp, anh Phạm Văn C (con trai bà M) vẫn giữ nguyên quan điểm, yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình tuyên bố bà Phạm Thị M là đã chết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình áp dụng điểm c khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự; khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 369, Điều 370, Điều 391, khoản 4 Điều 392 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn yêu cầu của anh Phạm Văn C, tuyên bố bà Phạm Thị M đã chết, ngày chết được xác định là ngày 01/01/2010.
Về lệ phí việc dân sự: Anh Phạm Văn C phải nộp tiền lệ phí theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình nhận định:
Về tố tụng: Anh Phạm Văn C có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình tuyên bố bà Phạm Thị M, nơi cư trú cuối cùng tại phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình là đã chết nên việc dân sự này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nôi dung giải quyết việc dân sự:
Sau khi thụ lý hồ sơ vụ việc, Tòa án nhân dân thị xã B đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với bà Phạm Thị M. Thông báo này được đăng tải 03 lần trong 03 số báo liên tiếp là 58, 59, 60 ra các ngày 21/7/2023, 26/7/2023 và 28/7/2023 trên Báo Công Lý; nhắn tìm trên Đài Tiếng nói Việt Nam thông qua Trung tâm Quảng cáo và Dịch vụ truyền thông được phát trên kênh VOV2 vào lúc 17 giờ 30 phút vào các ngày 25, 26, 27/7/2023. Đến nay đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết nhưng vẫn không có tin tức gì của bà Phạm Thị M. Do đó khẳng định kể từ ngày bà M bỏ đi biệt tích cho đến nay đã gần 14 năm nhưng vẫn không có tin tức xác thực là bà M còn sống. Xét đơn yêu cầu của anh Phạm Văn C về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với bà Phạm Thị M là có cơ sở, phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự nên cần được chấp nhận.
Về ngày chết của bà Phạm Thị M:
Theo kết quả xác nhận tại địa phương và lời khai những người làm chứng xác định: Bà Phạm Thị M biệt tích từ tháng 12/2009 nhưng không xác định được ngày biệt tích. Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ Luật Dân sự quy định: “...nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng”. Vì vậy, ngày chết của bà M được xác định là ngày 01/01/2010
Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà Phạm Thị M:
Căn cứ vào Bản sao Trích lục khai sinh do Ủy ban nhân dân phường Q cung cấp thể hiện: bà Phạm Thị M có chồng là ông Phạm Đình P (đã chết). Theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Dân sự thì khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Phạm Thị M là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Phạm Thị M được giải quyết như đối với một người là đã chết. Tài sản của bà Phạm Thị M được giải quyết theo pháp luật về thừa kế.
Về ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp:
Xét thấy, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên họp là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm:
Người yêu cầu anh Phạm Văn C phải nộp 300.000 đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
Từ những nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 21, khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 4 Điều 143, Điều 371, Điều 372, Điều 391, khoản 4 Điều 392 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 68, điểm c khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự; Điều 65, Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 36 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận đơn yêu của ông Phạm Văn C về việc tuyên bố bà Phạm Thị M, sinh năm 1958; nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố C, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình đã chết.
Ngày chết của bà Phạm Thị M được xác định là ngày 01/01/2010
Kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật thì các quan hệ về tài sản và quan hệ về nhân thân khác của bà Phạm Thị M (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật như đối với một người là đã chết.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Văn C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự để nộp ngân sách nhà nước nhưng được trừ vào khoản tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà anh C đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003612 ngày 22 tháng 6 năm 2023. Anh C đã nộp đủ tiền lệ phí theo quy định.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Phiên họp giải quyết việc dân sự, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình được quyền kháng nghị, anh Phạm Văn C có mặt được quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 30/11/2023.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã B; - TAND tỉnh Quảng Bình; - THADS thị xã B; - Người yêu cầu; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Tưởng Thị Hà |