- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Nguyễn Văn Th-Nguyễn Thị L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Nguyễn Văn Th về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người đã chết đối với bà Nguyễn Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2023/QĐST–VDS | Thái Nguyên, ngày 26 tháng 4 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần giải quyết Việc dân sự gồm có:
- Chủ tọa phiên họp: Bà Chu Thị Bích Hiền – Thẩm phán
- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Diệu Ngọc - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 08/2022/TLST-VDS ngày 16 tháng 6 năm 2022, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số: 04/2023/QĐST-VDS ngày 23 tháng 3 năm 2023.
1.Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1990
Nơi thường trú: Tổ x, phường C, TPTN, tỉnh Thái Nguyên
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1987
Địa chỉ: xóm A, xã H, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên
(Anh Th, chị Mai có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu về việc tuyên bố một người đã chết và các lời khai tiếp theo anh Nguyễn Văn Th trình bày:
Bố anh là ông Nguyễn Văn B (đã chết năm 2012) và mẹ anh là bà Nguyễn Thị L có 02 người con là Nguyễn Thị M và Nguyễn Văn Th, ngoài ra bố mẹ anh không có con nuôi hay con riêng nào khác, bà Nguyễn Thị L có bố là cụ Nguyễn Tiến Ng(đã chết năm 1990), mẹ là cụ Nguyễn Thị S (đã chết năm 2012). Sau khi lớn lên anh được mọi người trong gia đình nói lại mẹ anh bỏ nhà đi từ năm 1994 không ai biết đi đâu, làm gì gia đình cũng tìm kiếm nhưng không rõ thông tin xác thực của bà Nguyễn Thị L còn sống hay đã chết. Hiện nay bố anh đã chết có để lại tài sản nhưng không làm được thủ tục giấy tờ, do đó anh làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị L đã chết.
Tại bản tự khai và biên bản ghi lời khai của chị Nguyễn Thị M nhất trí với lời trình bày của anh Th, tuy nhiên chị xác định sau khi mẹ chị bỏ đi khoảng 04 năm thì về nhà được 02 tháng sau đó do bố chửi mắng nên mẹ tiếp tục bỏ đi, chị đề nghị Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị L đã chết và không có ý kiến gì khác.
Tại bản tự khai của em ruột bà Nguyễn Thị L (bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Tiến M1) đều xác định: Bà L xây dựng gia đình có 02 con (01 trai và 01 gái), chồng bà L đã chết, bà L đi làm ăn xa từ năm 1994 đến nay, gia đình không liên lạc được và không biết bà L còn sống hay đã chết.
Biên bản xác minh tại địa phương, đại diện tổ dân phố xác định: tổ dân phố A, thị trấn C, huyện Đ, đến tháng 10 năm 2017 có sát nhập địa giới hành chính chuyển thành tổ B, phường C, TPTN, đến tháng 10 năm 2019 chuyển thành tổ X, phường C, TPTN. Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn B có 02 con, con thứ 2 là Nguyễn Văn Th hiện đang cư trú tại tổ X, phường C. Địa phương xác định bà Nguyễn Thị L không có mặt tại địa phương khoảng 10 năm trở lại đây, người dân sinh sống tại đây và chính quyền địa phương không biết thông tin xác thực về việc bà L còn sống hay đã chết.
Biên bản xác minh tại Công an phường C, thành phố Thái Nguyên xác định: Từ năm 2002 trở về trước bà Nguyễn Thị L có hộ khẩu tại thị trấn C huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Bắt đầu từ năm 2002 trở về đây bà L không có tên trong sổ hộ khẩu 1842.
Biên bản xác minh tại Công an thành phố Thái Nguyên: Ngày 22/9/1986 bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962 chuyển hộ khẩu thường trú từ xóm TT, xã H, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên đến địa chỉ phường CT, thị trấn C, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên. Sổ hộ khẩu gia đình cấp ngày 10/10/1995 chủ hộ Nguyễn Thị L, nơi đăng ký thường trú: tổ X, thị trấn C, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên gồm 04 nhân khẩu. Tháng 7 năm 2002 Công an thị trấn C xác nhận đơn xin cấp lại sổ hộ khẩu gia đình bà Nguyễn Thị L, có nội dung “chị Nguyễn Thị L đã bỏ đi khỏi địa phương từ lâu”. Sổ hộ khẩu thu hồi do cấp đổi sổ hộ khẩu mới tại mục chuyển đi trong thông tin của bà Nguyễn Thị L có ghi “bỏ đi không rõ địa chỉ chưa vào sổ hộ khẩu”.
Tại công văn số 5172/PA08 (DD1) ngày 25/4/2023 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Thái Nguyên xác định “không có thông tin về xuất và nhập cảnh của công dân Nguyễn Thị L”.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Thư ký đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, người yêu cầu, người liên quan chấp hành đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ Điều 391, 393 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn Th về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị L đã chết. Về lệ phí áp dụng Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án anh Nguyễn Văn Th phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên nhận định:
Về tố tụng: anh Nguyễn Văn Th yêu cầu tuyên bố một người đã chết đối với bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962, nơi cư trú cuối cùng tổ dân phố A, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (nay là tổ x, phường C, TPTN, tỉnh Thái Nguyên). Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 yêu cầu của anh Th thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Về nội dung: Theo lời khai của các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962, trước khi biệt tích cư trú tại tổ 18, thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (nay là tổ x, phường C, TPTN, tỉnh Thái Nguyên) năm 1994 bỏ nhà đi, sau đó 04 năm có về nhà ở 02 tháng rồi đã bỏ nhà đi biệt tích từ đó đến nay, gia đình đã tìm kiếm nhưng không có tin tức gì, từ đó bà L không quay trở về địa phương lần nào và cũng không có bất kỳ hình thức gì liên hệ với gia đình.
Quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án đã Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố đã chết đối với bà Nguyễn Thị L. Thông báo tìm kiếm đã được đăng trên báo Công lý ba số liên tiếp là 91,92 và 93 ra các ngày 16,18 và 23 tháng 11 năm 2022; phát thanh trên Đài tiếng nói Việt Nam (VOV); đăng thông báo tại Cổng thông tin điện tử Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên và Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao ngày 12/11/2022, đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức gì của bà Nguyễn Thị L.
Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự quy định “Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây: a..d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có thông tin xác thực là còn sống..”. Như vậy có căn cứ xác định bà L đã đi khỏi địa phương đến nay là hơn 05 năm, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà L còn sống hay đã chết. Theo khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự “Thời hạn được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó,…. nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng ”, do đó theo lời trình bày của anh Th, chị M, người nhà bà L xác định bà L đi khỏi địa phương từ năm 1994, chị M xác định sau 04 năm có về nhà 02 tháng không rõ ngày tháng, như vậy xác định ngày chết của bà Nguyễn Thị L là ngày 1/1/2004.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ Khoản 1 Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miền, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án anh Nguyễn Văn Th phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên họp là phù hợp được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Áp dụng Điều 71, 72 Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Nguyễn Văn Th về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người đã chết đối với bà Nguyễn Thị L.
2. Tuyên bố bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962, nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tổ dân phố A, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (nay là tổ x, phường C, TPTN, tỉnh Thái Nguyên) đã chết, ngày chết xác định là ngày 01 tháng 01 năm 2004.
Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhận thân khác của bà Nguyễn Thị L được giải quyết như đối với người đã chết.
Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà Nguyễn Thị L được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Văn Th phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự nộp ngân sách nhà nước được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0001268 ngày 16/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
- Anh Nguyễn Văn Th, chị Nguyễn Thị M có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết.
- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - Các Đương sự; - VKSND thành phố Thái Nguyên; - Chi cục THADS TPTN; - UBND P. C, TPTN; - Lưu HS, Lưu TA. | Chu Thị Bích Hiền |