vanban.org

Quyết định 05/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Khương Thị H. Tuyên bố ông Đỗ Thọ T, sinh năm 1971; nơi cư trú cuối cùng: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh V đã chết ngày 01/01/2002.

Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Khương Thị Hằng yêu cầu tuyên bố Đỗ Thọ Trường là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Khương Thị H. Tuyên bố ông Đỗ Thọ T, sinh năm 1971; nơi cư trú cuối cùng: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh V đã chết ngày 01/01/2002.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2023/QĐST-VDSLập Thạch, ngày 26 tháng 6 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH – TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Nga

Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Quốc Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2023/TLST-VDS ngày 03 tháng 02 năm 2023 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2023/QĐST-VDS ngày 20 tháng 6 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Khương Thị H, sinh năm 1975 – Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh V (có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Mai H, sinh năm 1994; nơi cư trú: Tập đoàn Phú Cường, tầng 29, tòa nhà K, PH, quận N, thành phố H (vắng mặt).

NỘI DUNG:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và các lời khai tiếp theo người yêu cầu là bà Khương Thị H trình bày: Bà là vợ của ông Đỗ Thọ T. Bà kết hôn với ông T vào năm 1993, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Kết hôn xong bà và ông T về chung sống cùng bố mẹ ông T là cụ Đỗ Đức S và cụ Trần Thị N cho đến năm 1996 ông T đi vào miền nam làm ăn, đi làm ở đâu bà không biết và cũng không rõ địa chỉ, gia đình bà đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì về ông T từ đó cho đến nay. Quá trình chung sống vợ chồng bà sinh được 01 người con là Đỗ Mai H, sinh năm 1994; nơi cư trú: Tập đoàn Phú Cường, tầng 29, tòa nhà K, PH, quận N, TP H. Bố mẹ đẻ của ông T là cụ Đỗ Đức S (đã chết năm 2006) và cụ Trần Thị N (đã chết năm 1997). Ngoài ra, ông T không có bố mẹ nuôi hay con đẻ, con nuôi nào khác. Bà đã làm thủ tục tìm kiếm thông tin của ông T trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 4 tháng. Đến nay đã hết thời hạn đăng tin nhưng gia đình vẫn không có tin tức gì của ông T là còn sống và ông T cũng không liên lạc gì với gia đình.

Nay bà H đề nghị Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với chồng của bà là ông Đỗ Thọ T, sinh năm 1971; đi khỏi nơi cư trú cuối cùng: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh V kể từ năm 1996 đến nay không có tin tức gì.

Tại phiên họp bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đỗ Thọ Tg là đã chết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Đỗ Mai H vắng mặt tại phiên họp (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt) nhưng tại biên bản lấy lời khai ngày 14/02/2023, chị H xác định nội dung bà H trình bày như trên là đúng và chị nhất trí việc bà Khương Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đỗ Thọ T là đã chết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu quan điểm: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc thụ lý việc dân sự, xác định đúng thẩm quyền, tư cách đương sự, tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần những người tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của đương sự khi tham gia tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch áp dụng Điều 391, Điều 392, Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68, Điều 71, Điều 72 Bộ luật dân sự để chấp nhận yêu cầu của bà H.

Tuyên bố ông Đỗ Thọ T, sinh năm 1971; nơi cư trú cuối cùng: Thôn M, xã T huyện L, tỉnh V chết ngày 01/01/2002. Quan hệ nhân thân và tài sản liên quan đến ông T được giải quyết như đối với người đã chết.

Về lệ phí: Bà H phải chịu lệ phí việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch nhận định:

1. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Khương Thị H có đơn yêu cầu tuyên bố một người là ông Đỗ Thọ T, sinh năm 1971, có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại thôn M, xã T, huyện L, tỉnh V. Vì vậy, đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch theo quy định tại khoản 4 Điều 27, Điểm a Khoản 2 Điều 35, Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về tố tụng: Tại phiên họp, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Đỗ Mai H vắng mặt, nhưng chị H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án căn cứ vào Khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt chị H.

3. Về nội dung: Ông Đỗ Thọ T đi khỏi nơi cư trú cuối cùng: thôn M, xã T, huyện L, tỉnh V từ năm 1996 đến nay đã 27 năm liền mà không có tin tức xác thực là còn sống. Bà Khương Thị H là vợ hợp pháp của ông Đỗ Thọ T và chị Đỗ Mai H là con gái của ông T cùng chính quyền xã T là nơi cư trú cuối cùng của ông T cũng đều xác nhận ông T bỏ đi biệt tích đến nay đã 27 năm liền mà không có tín tức xác thực ông T còn sống.

Sau khi nhận được đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết của bà H, đề nghị Tòa án thông báo tìm kiếm thông tin ông Đỗ Thọ T trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết ngày 14/02/2023. Bà Khương Thị H cũng đã tiến hành thủ tục thông báo tìm kiếm ông Đỗ Thọ T trên báo Công lý trong ba kỳ liên tiếp vào các ngày 22, 24/02 và 01/3/2023 và đăng tin tìm kiếm ông Đỗ Thọ T trên Đài VOV ba lần vào các ngày 20, 21, 22/02/2023. Tòa án đã tiến hành đăng tin tìm kiếm ông T trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án từ ngày 21/02/2023. Việc đăng tin thực hiện đúng theo quy định tại Điều 384, Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đến nay đã hết thời hạn công bố thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng (04 tháng) vẫn không có tin tức xác thực là ông Đỗ Thọ T còn sống. Do đó, căn cứ vào Điểm d Khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Khương Thị H về việc tuyên bố ông Đỗ Thọ T đã chết là đúng pháp luật.

- Về ngày chết của ông Đỗ Thọ T: Theo lời khai, lời trình bày của bà Khường Thị H (vợ ông T), chị Đỗ Mai H (con gái ông T) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ việc dân sự thì chỉ xác định được thời gian ông Đỗ Thọ T bỏ đi khỏi địa phường là từ năm 1996, mà không xác định được ngày, tháng cụ thể. Do đó, thời hạn 05 năm liền biệt tích của ông T được xác định từ ngày 01/01/1997 và ngày chết của ông T được xác định vào ngày 01/01/2002 theo quy định tại Khoản 1 Điều 68 và Khoản 2 Điều 71 Bộ luật dân sự.

- Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Căn cứ Điều 72 Bộ luật dân sự thì: Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

4. Lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Bà Khương Thị H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ: Khoản 4 Điều 27; Điểm a Khoản 2 Điều 35; Điểm b Khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 391; Điều 392; Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 68, Điều 71, Điều 72 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Khương Thị H. Tuyên bố ông Đỗ Thọ T, sinh năm 1971; nơi cư trú cuối cùng: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh V đã chết ngày 01/01/2002.

- Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết:

Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

- Lệ phí sơ thẩm việc dân sự: Bà Khương Thị H phải chịu 300.000đ lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0006562 ngày 03/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lập Thạch.

- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định này hoặc Quyết định này được niêm yết tại nơi cư trú. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ