- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Thu H.
- Căn cứ chính? Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2023/QĐST-DS | Lấp Vò, ngày 10 tháng 7 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP.
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Kiều Tiên.
Thư ký phiên họp: Ông Bùi Lê Phú Qúy là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Hoàng Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lấp Vò mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 146/2023/TLST-VDS, ngày 19 tháng 5 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 17/2023/QĐST-VDS ngày 22 tháng 6 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị Thu H, sinh năm 1956.
Địa chỉ: số A, khóm B, thị trấn C, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị B, sinh năm 1954.
Địa chỉ: khóm D, thị trấn E, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Người yêu cầu Bùi Thị Thu H trình bày: bà H là em ruột của bà Bùi Thị B. Bà B không chồng, không con, cha mẹ bà B đã chết. Bà Bà hiện do bà H nuôi dưỡng. Năm bà B 20 tuổi thì phát bệnh tâm thần, tinh thần bà B không được minh mẫn như người bình thường. Nay bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố bà B là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và bà H là người giám hộ cho bà B để bà H quản lý giữ gìn tài sản theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Từ khi thụ lý đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết việc dân sự cũng như tại phiên họp Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Người yêu cầu chấp hành pháp luật đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và kết luận giám định pháp y tâm thần số 258/2023/KLGĐ ngày 19/6/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần Khu vực Tây Nam Bộ kết luận: Bà Bùi Thị B hiện tại bị bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách thực tổn (F07.0 – ICD10); đương sự có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Đề nghị Chủ toạ phiên họp áp dụng khoản 1 Điều 23, điểm d khoản 1 Điều 47, Điều 53, Điều 54 Bộ luận dân sự 2015 chấp nhận yêu cầu của bà H, tuyên bố bà B có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và xác định bà H là người giám hộ cho bà B. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo Điều 57 và Điều 58 Bộ luật dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò nhận định:
Về tố tụng: Tại đơn yêu cầu đề ngày 23/3/2023 và đơn sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu đề ngày 22/6/2023, bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Bùi Thị B có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do đó, xác định loại việc dân sự Toà án thụ lý giải quyết là “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”. Bà B có hộ khẩu và đang cứ trú tại huyện Lấp Vò nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện bà Bùi Thị B có bệnh lý: bị tai biến mạch máu não, để lại di chứng yếu nữa người (P), từ đó dần thay đổi trong tính cách và hành vi: Có những hành vi và cử chỉ không bình thường, hay cáu gặt, bực tức, quậy phá, không còn khả năng làm được như trước, suy giảm các mối quan hệ xã hội. Hiện tại, đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng tại địa phương theo diện người khuyết tật nặng. Có triệu chứng: ý thức tỉnh, định hướng lực sai, tư duy nhịp chậm, suy giảm tốc độ ngôn ngữ, nội dung nghèo nàn, chưa ghi nhận hoang tưởng, chưa ghi nhận ảo giác, cảm xúc không ổn định, khí sắc thất thường, hành vi giảm khả năng chấp hành, giảm dùng động tác, khả năng tập trung chú ý giảm, trí nhớ trí năng giảm. Kết quả cận lâm sàng: MMSE: 26/30 điểm. Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 258/2023/KLGĐ ngày 19/6/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần Khu vực Tây Nam Bộ kết luận: Bà Bùi Thị B hiện tại bị bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách thực tổn (F07.0 – ICD10); đương sự có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.
Kết luận giám định pháp y của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Tây Nam Bộ phù hợp với lời trình bày của bà H và trình trạng hiện tại của bà B và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó có đủ cơ sở kết luận bà Bùi Thị B có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Căn cứ vào khoản 1 Điều 23 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Thu H. Tuyên bố bà Bùi Thị B là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Về xác định người giám hộ: Bà Bùi Thị B không chồng con, cha mẹ đã chết, bà H là em ruột của bà B, bà B và anh chị em của bà B cũng đồng ý để bà H là người giám hộ nên theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 47, Điều 53 và Điều 54 Bộ luật dân sự xác định bà Bùi Thị Thu H là người giám hộ cho bà Bùi Thị B. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo Điều 57 và Điều 58 của Bộ luật dân sự.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị Thu H là người cao tuổi, có đơn xin miễn lệ phí nên được miễn toàn bộ lệ phí.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 và Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 23, điểm d khoản 1 Điều 47, Điều 53, Điều 54, Điều 57 và Điều 58 Bộ luật dân sự.
Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Thu H.
Tuyên bố bà Bùi Thị B, sinh năm 1954. Địa chỉ: khóm Bình Thạnh 1, thị trấn Lấp Vò, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Bà Bùi Thị Thu H là người giám hộ cho bà Bùi Thị B. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo Điều 57 và Điều 58 của Bộ luật dân sự.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị Thu H là người cao tuổi, có đơn xin miễn lệ phí nên được miễn toàn bộ lệ phí.
3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - Viện KSND huyện Lấp Vò; - Chi cục THADS huyện Lấp Vò; - Toà án Tỉnh; - Người yêu cầu; - Lưu: Hồ sơ, VP. | Đã ký Lê Thị Kiều Tiên |