vanban.org

Quyết định 05/2023/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 09/01/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T.

Tuyên bố: Anh Phạm Trung Đ, nơi cư trú cuối cùng tại: Xóm T, xã D, huyện D là đã chết. Ngày chết được xác định là ngày 03 tháng 11 năm 2002. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu câu tuyên bố một người đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2023/QĐST-DSDiễn châu, ngày 09 tháng 01 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Ông Bạch Hưng Thành.

Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Hằng- Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Vinh- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 108/2022/TLST-VDS ngày 08 tháng 8 năm 2022 về việc yêu cầu tuyên bố một người đã chết theo Quyết định mở phiên họp sở thẩm giải quyết việc dân sự ngày 28 tháng 12 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1945.

Trú tại: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (có mặt).

Người có quyền lợi liên quan:

1, Anh Phạm Trung Đ, sinh năm 1976.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú cuối cùng: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

2, Anh Phạm Trung T1, sinh năm 1973

Trú tại: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (có mặt).

3, Anh Phạm Trung T2, sinh năm 1980

Trú tại: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (có mặt).

4, Anh Phạm Trung Đ1, sinh năm 1984.

Trú tại: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

Đại diện theo ủy quyền của Phạm Trung Đ1 là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1945.

Trú tại: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (có mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 14 tháng 7 năm 2022 và lời trình bày tại phiên họp người yêu cầu bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà và ông Phạm Trung T3, sinh năm 1944 (chết năm 2006, có giấy chứng tử) kết hôn với nhau và có 04 người con là: Phạm Trung T1, Phạm Trung Đ, Phạm Trung T2 và Phạm Trung Đ1. Hiện nay các cháu T1, T2 và Đ1 đã lập gia đình, còn Phạm Trung Đ đi lao động đánh cá ở đảo P nhưng đến ngày 03/11/1997 cơn bão số 5 đổ bộ vào khu vực đảo P. Lúc đó Phạm Trung Đ đang ở trên thuyền và đã bị sóng lớn cuốn trôi người và thuyền biệt tích. Gia đình đã làm đơn đề nghị cơ quan chức năng tiến hành tìm kiếm nhiều lần nhưng không có tin tức. Đã hơn 25 năm trôi qua, kể từ ngày Phạm Trung Đ biệt tích đến nay cũng không có bất kỳ tin tức nào xác thực còn sống hay đã chết nên bà Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố anh Phạm Trung Đ đã chết theo quy định của pháp luật. Trước khi đi, anh Phạm Trung Đ sức khỏe, tâm thần bình thường và chưa lập gia đình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Trung T1, Phạm Trung T2 và Phạm Trung Đ1: Thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị T và không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà T về việc tuyên bố anh Phạm Trung Đ là đã chết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên họp: Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán giải quyết việc dân sự, Thư ký phiên họp, người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự: Thẩm phán chấp hành đúng quy định tại Điều 363, 365, 366 Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu căn cứ khoản 4 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 71 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Danh mục về án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016) chấp nhận yêu cầu tuyên bố anh Phạm Trung Đ là đã chết. Người yêu cầu bà Nguyễn Thị T được miễn án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu nhận định:

. Về quyền yêu cầu: Bà Nguyễn Thị T là mẹ đẻ của anh Phạm Trung Đ nên bà T có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Phạm Trung Đ đã chết.

. Về thẩm quyền giải quyết: Anh Phạm Trung Đ là người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết, có nơi cư trú cuối cùng tại xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 4 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Diễn Châu.

Xét yêu cầu của đương sự: Ủy ban nhân dân xã D đã có văn bản xác nhận anh Phạm Trung Đ có nơi đăng kí hộ khẩu thường trú tại xã D nhưng từ năm 1997 đến nay không còn cư trú và sinh sống tại xã D, không có nhân khẩu trong tàng thư xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Tại Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống”. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 03/2022/QĐ-TA ngày 18/8/2022 và được B đăng tin trên các số báo 68 ngày 26/8/2022, 69 ngày 31/8/2022, 70 ngày 02/9/2022, Đài tiếng nói Việt Nam phát trên kênh VOV2 vào các ngày 09, 10 và 11/9/2022. Hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác định anh Phạm Trung Đ còn sống hay đã chết. Do đó, yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Phạm Trung Đ đã chết là có căn cứ, phù hợp với quy định.

Về xác định ngày chết của anh Phạm Trung Đ: Theo lời trình bày của các đương sự thì Phạm Trung Đ đi từ ngày 03 tháng 11 năm 1997, từ đó trở đi thì không ai nhận được thông tin liên lạc nào của anh Đ. Như vậy căn cứ vào quy định tại điểm d, khoản 1 điều 71 BLDS thì ngày chết của anh Phạm Trung Đ được xác định là ngày 03/11/2002.

Về hậu quả pháp lý của việc anh Phạm Trung Đ bị tuyên bố là đã chết: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố anh Phạm Trung Đ đã chết có hiệu lực pháp luật thì các quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ nhân thân khác và quan hệ về tài sản của anh Phạm Trung Đ được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của anh Phạm Trung Đ được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T được miễn lệ phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát được quyền kháng nghị quyết định theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 4 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Danh mục về án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016).

- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T.

Tuyên bố: Anh Phạm Trung Đ, nơi cư trú cuối cùng tại: Xóm T, xã D, huyện D là đã chết.

Ngày chết được xác định là ngày 03 tháng 11 năm 2002.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật thì các quan hệ về hôn nhân gia đình và các quan hệ nhân thân khác của anh Phạm Trung Đ được giải quyết như đối với một người đã chết.

Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T được miễn lệ phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo quyết định trong hạn có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ