- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị tái thẩm số 137/QĐKNTT-VC1-KDTM ngày 16/9/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Căn cứ chính? Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự tạm đình chỉ giải; Điều 351 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI Quyết định tái thẩm | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2023/KDTM-TT Ngày 11 tháng 01 năm 2023 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Thành Quang - Thẩm phán cao cấp;
Các thành viên: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân - Thẩm phán cao cấp;
Ông Vũ Minh Tuấn - Thẩm phán cao cấp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa tái thẩm xét xử vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên T; địa chỉ trụ sở: Phòng 04-05, tầng 12 S, 92-94 N, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo pháp luật là ông H - Tổng Giám đốc; người đại diện theo ủy quyền là ông Đặng Võ Quốc Th (Văn bản ủy quyền số 34/UQ-CEO.17 ngày 19/4/2017).
2. Bị đơn: Ông Trần Quốc T, sinh năm 1973 và bà Trương Thị H, sinh năm 1978; đều có địa chỉ tại: Thôn X, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/5/2018 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên T (do người đại diện) trình bày: Ngày 30/5/2015, ông Trần Quốc T, bà Trương Thị H ký kết Hợp đồng tín dụng số 100011243 vay Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên T (viết tắt là Công ty T) số tiền 705.000.000 đồng để mua xe ô tô Toyota Fortuner BKS 35A-061.91 với thời hạn vay 36 tháng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là chiếc xe ô tô nêu trên, được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 30/12/2015 và được cấp giấy chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 05/01/2016.
Do ông T, bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty T khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông T, bà H phải trả cho Công ty số tiền tính đến ngày 12/10/2018 là 576.318.996 đồng (bao gồm 466.423.625 đồng tiền gốc, 47.880.280 đồng tiền lãi, 62.015.091 đồng tiền lãi quá hạn) và có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Bị đơn là ông Trần Quốc T và bà Trương Thị H: Nhất trí với lời trình bày của đại diện Công ty T về việc ký kết Hợp đồng tín dụng số 100011243, về số tiền nợ gốc, nợ lãi và đề nghị Công ty T tạo điều kiện cho ông bà được trả nợ theo lộ trình mỗi tháng 50.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ hợp đồng tín dụng. Trường hợp ông bà không thực hiện được việc trả nợ theo cam kết thì ông bà chấp nhận để Công ty T xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 08/2018/QĐST-KDTM ngày 22/10/2018, Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình công nhận sự thỏa thuận của các đương sự với nội dung:
Tính đến ngày 12/10/2018, ông T, bà H còn nợ Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên T số tiền 576.318.996 đồng; đến ngày 26/10/2018, ông T, bà H phải trả 50.000.000 đồng; tiếp theo đến ngày 26 hàng tháng, ông T, bà H phải trả 50.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ của hợp đồng tín dụng.
Trường hợp ông T, bà H vi phạm một trong các mốc thời gian trả nợ thì Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên T được quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô Toyota Fortuner, số khung: RL4ZX69G7F9014358, số máy: 2TRA004613, BKS: 35A-061.91 để cấn trừ vào nghĩa vụ trả nợ của ông Trần Quốc T và bà Trương Thị H cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên T.
Ngày 27/6/2022, Cơ quan điều tra hình sự - Bộ Quốc phòng có Công văn số 286/ĐTHS-P8 đề nghị xem xét lại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nêu trên theo thủ tục tái thẩm.
Ngày 01/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình có Báo cáo số 01/TB-VKS đề nghị xem xét lại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nêu trên theo thủ tục tái thẩm.
Tại Quyết định kháng nghị tái thẩm số 137/QĐKNTT-VC1-KDTM ngày 16/9/2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội kháng nghị Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 08/2018/QĐST-KDTM ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; đề nghị Ủy ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử tái thẩm hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 08/2018/QĐST-KDTM ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa tái thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Ngày 08/6/2021, Cơ quan điều tra hình sự - Bộ Quốc phòng có Quyết định số 02/QĐ-KTVA khởi tố vụ án hình sự “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Lữ đoàn A, Quân đoàn B và địa bàn tỉnh Ninh Bình, liên quan đến sai phạm của Thượng tá Trần Quốc T, nguyên Phó Lữ đoàn trưởng - Tham mưu trưởng Lữ đoàn A.
Ngày 04/10/2021, Cơ quan điều tra hình sự - Bộ Quốc phòng có Quyết định số 478/QĐ-KTBSVA bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” xảy ra tại Lữ đoàn A, Quân đoàn B và địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Tại Kết luận số 18/GĐKTHS-P11 ngày 24/01/2022, Phòng giám định Kỹ thuật hình sự Bộ Quốc phòng xác định: Chứng nhận đăng ký xe ô tô Toyota Fortuner BKS 35A-061.91, ghi tên chủ xe Trần Quốc T là bản phôi được hình thành bằng phương pháp in phun màu. Chữ ký mang tên Đại tá Đinh Văn N không phải là chữ ký trực tiếp, được hình thành bằng phương pháp in phun màu. Hình dấu mang tên “CÔNG AN TỈNH NINH BÌNH” không phải là hình dấu đóng trực tiếp, được hình thành bằng phương pháp in phun màu.
Ngày 28/02/2022, Công ty T có đơn tố giác tội phạm gửi Cơ quan điều tra hình sự - Bộ Quốc phòng tố cáo ông Trần Quốc T về hành vi chiếm đoạt tài sản của Công ty.
Như vậy, hành vi sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô Toyota Fortuner BKS 35A-061.91 giả để thế chấp vay tiền Công ty T của ông T có dấu hiệu của tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo quy định của Bộ luật Hình sự. Công ty T sẽ không thể thực hiện được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm khi ông T, bà H không thanh toán được khoản nợ (theo nội dung Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 08/2018/QĐST-KDTM ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình).
Quá trình giải quyết đơn khởi kiện của Công ty T, Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình không biết việc ông T sử dụng Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả nên đã ra quyết định theo thủ tục tố tụng dân sự, bỏ lọt hành vi phạm tội của ông T. Do đó, các tài liệu Cơ quan điều tra hình sự - Bộ Quốc phòng cung cấp nêu trên là tình tiết mới có thể làm thay đổi bản chất của vụ án, là căn cứ để kháng nghị vụ án theo thủ tục tái thẩm. Do đó, cần hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nêu trên theo thủ tục tái thẩm để giao cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại.
Khi thụ lý lại vụ án, Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình cần căn cứ điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả giải quyết vụ án hình sự đối với bị can Trần Quốc T. Nếu các hành vi nêu trên và khoản tiền vay theo Hợp đồng tín dụng số 100011243 ngày 30/5/2015 được xử lý theo quy định của pháp luật hình sự bằng bản án, quyết định có hiệu lực thì Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 và điểm g Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 351; khoản 2 Điều 356 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị tái thẩm số 137/QĐKNTT-VC1-KDTM ngày 16/9/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
2. Hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 08/2018/QĐST-KDTM ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình về vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên T với bị đơn là ông Trần Quốc T, bà Trương Thị H.
3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Chánh án TANDCC tại Hà Nội (để báo cáo); -VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình (kèm hồ sơ vụ án); - Chi cục THADS huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu P.HCTP-VP, P.GĐKTII, HSVA, HSGĐT. | TM. UỶ BAN THẨM PHÁN PHÓ CHÁNH ÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Chu Thành Quang |