vanban.org

Quyết định 05/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 16/12/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Thạch S.

Tuyên bố ông Thạch D, sinh năm 1948; Nơi cư trú trước khi biệt tích: ấp B, xã C, huyện T, tỉnh Trà Vinh là đã chết. Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản: Kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố ông Thạch D là đã chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày chết của ông Thạch D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "tuyên bố chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Thạch S.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2022/QĐST-VDSTiểu Cần, ngày 16 tháng 12 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc “Tuyên bố một người là đã chết”

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Võ Thị Ngọc Quyền.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Phước Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoàng Danh- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 86/2022/TLST-VDS ngày 17 tháng 10 năm 2022, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2022/QĐST-VDS ngày 08 tháng 12 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Thạch S, sinh năm 1962.

Địa chỉ: ấp S, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

- Người bị yêu cầu tuyên bố chết: Ông Thạch D, sinh năm 1948.

Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: ấp B, xã C, huyện T, tỉnh Trà Vinh

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Thạch S đối với ông Thạch D và lời khai của ông Thạch S thể hiện: Ông Thạch S và ông Thạch D là anh em ruột. Cha mẹ ông S là ông Thạch Ph và bà Thạch P có tất cả 09 người con, trong đó có ông Thạch D sinh năm 1948 nhưng theo cha mẹ ông S kể lại là ông Thạch D đã đi biệt tích từ năm 1960 cho đến nay không có tin tức, dù ông và gia đình đã tìm kiếm rất nhiều lần nhưng không có kết quả nên ông yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Thạch D đã chết. Hiện nay 09 anh chị em của ông đã chết và biệt tích chỉ còn lại ông và bà Thạch Ch. Mục đích ông yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Thạch D chết để các anh em còn sống làm thủ tục chia thừa kế theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý việc dân sự và tại phiên họp đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung, đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Thạch S, tuyên bố ông Thạch D đã chết. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xem xét giải quyết nghĩa vụ chịu lệ phí việc dân sự, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Ông Thạch S là em ruột của ông Thạch D và đều là người thuộc hàng thừa kế thứ hai của bà Thạch H. Căn cứ khoản 1 Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông Thạch S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Thạch D là đã chết.

Ông Thạch D có nơi cư trú trước khi biệt tích tại ấp B, xã C, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ khoản 4 Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

Về nội dung yêu cầu: Theo lời trình bày của ông S là ông Thạch D đã bỏ địa phương đi từ năm 1960 đến nay không liên lạc gì về gia đình, gia đình cũng không biết ông sống hay đã chết. Mặc dù gia đình đã tìm kiếm rất nhiều lần nhưng không có kết quả. Xét thấy, qua đơn xin xác nhận tại địa phương nơi ông Thạch D cư trú cuối cùng trước khi biệt tích (bút lục 02) thể hiện ông Thạch D không có mặt tại địa phương từ năm 1960 cho đến nay là đúng.

Tại biên bản xác minh ngày 07/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần với những láng giềng sống lâu năm tại địa phương (bút lục 06-07 và 10-11) thể hiện ông Thạch D đã rời khỏi địa phương từ năm 1960, không ai biết ông D đi đâu, từ đó đến nay cũng không thấy ông D xuất hiện ở địa phương.

Đồng thời qua xác minh bà Thạch Ch là em ruột của ông D cũng cung cấp rằng lúc nhỏ ông Thạch D sống cùng cha mẹ ở ấp B nhưng đã đi khỏi địa phương từ năm 1960 đến nay, không liên lạc về gia đình và cũng không ai có tin tức của ông D.

Sau khi thụ lý đơn của ông Thạch S về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Thạch D đã chết, Tòa án đã ra Quyết định số 09/2022/QĐ-TA ngày 13/7/2022 về thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với ông Thạch D. Thông báo này đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương là Báo Công Lý 03 (ba) số liên tiếp, Đài tiếng nói Việt Nam và Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh 03 (ba) lần trong 03 (ba) ngày liên tiếp theo thủ tục chung nhưng đến nay đã hơn 04 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo lần đầu tiên vẫn không nhận được tin tức của ông Thạch D. Nên Tòa án mở phiên họp xét đơn yêu cầu tuyên bố một người đã chết đối với ông Thạch D theo quy định của pháp luật. Từ những cơ sở trên, đồng thời căn cứ điểm d Khoản 1, Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 xét yêu cầu của ông Thạch S đề nghị Tòa án tuyên bố ông Thạch D đã chết là đủ cở sở để chấp nhận.

Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Thạch D: Theo quy định tại Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015 thì khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Thạch D đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Thạch D được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của ông Thạch D được giải theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần đã nhận định đúng về thủ tục tố tụng. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Thạch S về việc tuyên bố ông Thạch D đã chết là đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.

Về lệ phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc ông Thạch S phải nộp số tiền 300.000 đồng lệ phí dân sự theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 3 Điều 144, Điều 361, 369, 370, 371, 372, 391, 393 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 71 và 72 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Thạch S.

Tuyên bố ông Thạch D, sinh năm 1948; Nơi cư trú trước khi biệt tích: ấp B, xã C, huyện T, tỉnh Trà Vinh là đã chết.

2. Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản: Kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố ông Thạch D là đã chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày chết của ông Thạch D.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân, gia đình; quan hệ về tài sản và các quan hệ nhân thân khác của ông Thạch D được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Thạch D được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Thạch S phải nộp 300.000 đồng lệ phí tại Chi cục Thi Hành án dân sự huyện Tiểu Cần.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, phải thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ