vanban.org

Quyết định 05/2022/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu của UBND xã Đ T, huyện T M, tỉnh Hải Dương về việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của anh P Đ C và chị N T T.

Chấp nhận yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của anh P Đ C và chị N T T. Công nhận quan hệ hôn nhân giữa Anh P Đ C, sinh ngày 20/02/1970 và chị N T T, sinh ngày 20/11/1977; Đều có ĐKHKTT và nơi cư trú tại: Thôn Đ L, xã Đ T, huyện T M, tỉnh Hải Dương kể từ thời điểm hai bên đủ điều kiện kết hôn (Kể t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "UBND xã Đ T yêu cầu hủy kết hôn"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu của UBND xã Đ T, huyện T M, tỉnh Hải Dương về việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của anh P Đ C và chị N T T.
  • Căn cứ chính? Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

H
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T M
TỈNH HẢI DƢƠNG
Số: 05/2022/QĐST-HNGĐ
T M, ngày 17 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T M, TỈNH HẢI DƢƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông An Văn Khoái.

Thư ký phiên họp: Ông Bùi Hoàng Anh -Thư ký Toà án nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Diên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương tiến hành mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 05/2022/TLST-VDS ngày 19 tháng 4 năm 2022 về việc “Yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 05/2022/QĐST-VDS ngày 05 tháng 5 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: UBND xã Đ T, huyện T M, tỉnh Hải Dƣơng.

Người đại diện theo pháp luật của UBND xã Đ T: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Chủ tịch UBND xã.

Ông Tuấn vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh P Đ C, sinh ngày 20/02/1970 và chị N T T, sinh ngày 20/11/1977; Đều có ĐKHKTT và nơi cư trú tại: Thôn Đ L, xã Đ T, huyện T M, tỉnh Hải Dương.

Anh Chọn, chị Thơm vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Qua quá trình kiểm tra lý lịch các tài liệu lưu trữ tại UBND xã Đ T và phản ánh của công dân, UBND xã Đ T phát hiện trường hợp anh P Đ C, sinh ngày 20/02/1970 và chị N T T, sinh ngày 20/11/1977, đều có hộ khẩu thường trú tại: Thôn Đ L, xã Đ T, huyện T M, tỉnh Hải Dương kết hôn ngày 25 tháng 4 năm 1994 là trái pháp luật.

Căn cứ theo các tài liệu chính gồm: Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu gia đình, giấy khai sinh của các con và một số giấy tờ tùy thân khác thì chị N T T, sinh ngày 20/11/1977 nhưng đến ngày ngày 25 tháng 4 năm 1994 đã tiến hành đăng ký kết hôn với anh P Đ C (thời điểm đăng ký kết hôn, anh Chọn là công dân sinh sống, cư trú tại thôn Đ L, xã Đ T), khi đó chị Thơm còn thiếu 06 tháng 28 ngày mới đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 5 Luật Hôn nhân gia đình năm 1986: “Nam từ 20 tuổi trở lên, Nữ từ 18 tuổi trở lên”.

Do khi đến đăng ký kết hôn tại UBND xã, anh Chọn và chị Thơm đã thống nhất khai chị Thơm sinh tháng 3/1976, đồng thời việc kiểm tra lý lịch của cán bộ tư pháp thời điểm đó còn chưa chính xác nên đã đăng ký kết hôn cho anh Chọn, chị Thơm và ghi trong giấy chứng nhận kết hôn ghi chị N T T, sinh tháng 3/1976 và anh P Đ C, sinh tháng 2/1970. Vì vậy, việc kết hôn và ban hành giấy chứng nhận kết hôn là trái pháp luật. Việc đăng ký kết hôn trái pháp luật đã gây ra cho anh Chọn và chị Thơm nhiều vấn đề khó khăn trong quá trình sinh sống và ảnh hưởng đến việc học hành, thi cử, làm việc đối với các con của anh chị khi các tài liệu hồ sơ, năm sinh của mẹ không khớp nhau. Hiện tại anh Chọn và chị Thơm vẫn chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ L, xã Đ T, huyện T M, tỉnh Hải Dương.

Vì vậy UBND xã Đ T đề nghị Tòa án nhân dân huyện T M hủy việc kết hôn trái pháp luật (kèm chứng nhận kết hôn của UBND xã Đ T cấp cho anh Chọn và chị Thơm ngày 25/4/1994). Bên cạnh đó, nếu anh Chọn và chị Thơm có yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn thì đề nghị Tòa án nhân dân huyện T M tạo điều kiện để công nhận quan hệ hôn nhân cho anh chị.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Chọn, chị Thơm trình bày: Anh chị được tự do, tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ T ngày 25/4/1994. Tuy nhiên, tại thời điểm đi đăng ký kết hôn, chị Thơm chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân gia đình thời điểm đó (chị Thơm sinh ngày 20/11/1977, nên còn thiếu 06 tháng 28 ngày mới đủ tuổi đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân gia đình năm 1986). Vì vậy, khi đến UBND xã Đ T làm thủ tục đăng ký kết hôn, vợ chồng anh chị thống nhất khai tăng tuổi chị Thơm là N T T từ 20/11/1977 thành sinh tháng 3/1976 để có thể đủ tuổi đăng ký kết hôn. Sau đó, UBND xã Đ T đã đăng ký kết hôn cho anh chị tại Giấy chứng nhận kết hôn số 15/1994, quyển số 01, ngày 25/4/1994, thể hiện P Đ C, sinh tháng 02/1970 và N T T, sinh tháng 3/1976.

Kể từ thời điểm đăng ký kết hôn cho đến nay, vợ chồng anh chị về tổ chức cuộc sống chung hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì và đã sinh được 03 con chung là Phạm Thị Hương, sinh ngày 19/01/1996; Phạm Thị Ngọc Anh, sinh ngày 17/7/2002; Phạm Đức Minh Hiếu, sinh ngày 17/7/2008. Vì vậy, vợ chồng anh chị cùng thống nhất đề nghị Tòa án nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương công nhận quan hệ hôn nhân của vợ chồng anh chị kể từ thời điểm vợ chồng anh chị đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Viết Thiềng – Chủ tịch UBND xã Đ T thời điểm năm 1994 là người đăng ký cho chị Thơm, anh Chọn thừa nhận: Do việc kiểm tra giấy tờ tùy thân không kỹ và tin tưởng theo lời khai của anh Chọn, chị Thơm nên đã tiến hành đăng ký kết hôn cho anh chị vào ngày 25/4/1994.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T M tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp và thư ký phiên họp kể từ khi thụ lý vụ việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự là đúng quy định. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện T M áp dụng: Khoản 6 Điều 3, Điều 8, 10, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối Cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối Cao, Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

+ Không chấp nhận đơn yêu cầu của UBND xã Đ T, huyện T M, tỉnh Hải Dương.

+ Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh P Đ C, sinh ngày 20/02/1970 và chị N T T, sinh ngày 20/11/1977, tại thời điểm anh chị đủ điều kiện kết hôn.

+ Về lệ phí: Anh P Đ C và chị N T T phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Anh P Đ C và chị N T T (quê quán tại thôn An Lâu, xã Hồng Quang) hiện đều có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ L, xã Đ T, huyện T M, tỉnh Hải Dương.

UBND xã Đ T, huyện Ninh Thanh, tỉnh Hải Hưng (nay là UBND xã Đ T, huyện T M, tỉnh Hải Dương) là nơi đăng ký kết hôn cho anh Chọn, chị Thơm, vì vậy UBND xã Đ T, huyện T M có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T M hủy việc kết hôn trái pháp luật (kèm Giấy chứng nhận kết hôn số 15/1994, quyển số 01, ngày 25/4/1994 đã cấp cho anh Chọn và chị Thơm), đồng thời trong quá trình giải quyết, anh Chọn và chị Thơm có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T M công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn. Căn cứ Điều 10, Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc Tòa án nhân dân huyện T M thụ lý vụ việc dân sự là đúng thẩm quyền.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu là UBND xã Đ T; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Chọn và chị Thơm vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại phiên họp là phù hợp với quy định tại khoản 2, 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về nội dung yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật (kèm theo Giấy chứng nhận kết hôn của anh Chọn và chị Thơm năm 1994) của UBND xã Đ T và yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của anh Chọn, chị Thơm kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn là có căn cứ chấp nhận.

Căn cứ theo các tài liệu chính gồm: Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu gia đình, giấy khai sinh và một số giấy tờ tùy thân khác thì chị N T T, sinh ngày 20/11/1977 (thời điểm đăng ký kết hôn, chị Thơm là công dân sinh sống, cư trú tại thôn An Lâu, xã Hồng Quang) nhưng đến ngày ngày 25 tháng 4 năm 1994 đã tiến hành đăng ký kết hôn với anh P Đ C, khi đó chị Thơm còn thiếu 06 tháng 28 ngày mới đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 5 Luật Hôn nhân gia đình năm 1986: “Nam từ 20 tuổi trở lên, Nữ từ 18 tuổi trở lên”. Vì chị Thơm chưa đủ tuổi để kết hôn nên đã thống nhất với anh Chọn khai với cán bộ đăng ký kết hôn xã Đ T họ tên, ngày tháng năm sinh là N T T, sinh tháng 3/1976 để chị Thơm có thể đủ tuổi đăng ký kết hôn. Do sơ suất trong việc kiểm tra lý lịch công dân nên cán bộ đăng ký kết hôn thời điểm đó đã đăng ký kết hôn cho anh Chọn và chị Thơm, thể hiện tại Giấy chứng nhận kết hôn số 15/1994, quyển số 01, ngày 25/4/1994 ghi chị N T T, sinh tháng 3/1976 và anh P Đ C, sinh tháng 2/1970. Việc kết hôn đó đã vi phạm vào Điều 5 Luật Hôn nhân gia đình năm 1986 và là kết hôn trái pháp luật. Do vậy UBND xã Đ T có đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật (kèm theo giấy chứng nhận kết hôn của anh Chọn và chị Thơm năm 1994) là có căn cứ chấp nhận theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Khoản 6 Điều 3, Điều 8, 10, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi đăng ký kết hôn anh Chọn và chị Thơm đã chung sống hạnh phúc và có với nhau 03 con chung là Phạm Thị Hương, sinh ngày 19/01/1996; Phạm Thị Ngọc Anh, sinh ngày 17/7/2002; Phạm Đức Minh Hiếu, sinh ngày 17/7/2008. Quá trình chung sống, anh Chọn và chị Thơm không có mâu thuẫn gì và đều thống nhất đề nghị công nhận quan hệ hôn nhân cho anh chị kể từ thời điểm đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Yêu cầu công nhận hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a, b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối Cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối Cao, Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Do đó, không cần hủy việc kết hôn trái pháp luật mà công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh P Đ C và chị N T T kể từ thời điểm anh chị đủ điều kiện kết hôn là ngày 21/11/1994.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự:

- UBND xã Đ T, huyện T M, tỉnh Hải Dương không phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự;

- Anh Chọn và chị Thơm có đơn yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn nên phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Khoản 6 Điều 3, Điều 8, 10, 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a, b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149, 370, 371 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2016; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận yêu cầu của UBND xã Đ T, huyện T M, tỉnh Hải Dương về việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của anh P Đ C và chị N T T.

Chấp nhận yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của anh P Đ C và chị N T T.

2. Công nhận quan hệ hôn nhân giữa Anh P Đ C, sinh ngày 20/02/1970 và chị N T T, sinh ngày 20/11/1977; Đều có ĐKHKTT và nơi cư trú tại: Thôn Đ L, xã Đ T, huyện T M, tỉnh Hải Dương kể từ thời điểm hai bên đủ điều kiện kết hôn (Kể từ ngày 21 tháng 11 năm 1994).

3. Về lệ phí:

- UBND xã Đ T, huyện T M, tỉnh Hải Dương không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

- Anh P Đ C và chị N T T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, được đối trừ vào tiền tạm ứng lệ phí anh Chọn, chị Thơm đã nộp theo biên lai số: AA/2020/0004157 ngày 19 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T M, tỉnh Hải Dương.

4. Quyền kháng cáo: UBND xã Đ T; anh Chọn và chị Thơm có quyền kháng cáo Quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra Quyết định; Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày ra Quyết định.

Cỡ chữ