vanban.org

Quyết định 05/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 14/10/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Bùi Thị T về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.

Tuyên bố cụ Bùi Thị H là người mất năng lực hành vi dân sự. Chỉ định bà Bùi Thị T là người giám hộ cho cụ Bùi Thị H. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo quy định tại điều 57, 58 Bộ luật dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Bùi Thị T về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
TP. HÀ NỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2022/QĐST-DSHà Nội, ngày 14 tháng 10 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/V: Yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên họp:

Bà Trần Thị Kim Cúc

Thư ký phiên họp:

Bà Nguyễn Thị Minh Ngọc

Đại diện VKSND quận Hoàng Mai - TP Hà Nội tham gia phiên họp:

Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàng Mai - thành phố Hà Nội, mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 50/2022/TLST- VDS ngày 22/7/2022 về yêu cầu “ Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số 05/2022/QĐST-VDS ngày 05/10/2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị T- sinh năm 1956( có mặt)

Người bị yêu cầu: Cụ Bùi Thị H- sinh năm 1931

Cùng địa chỉ: Tổ 9 phường T,H, Hà Nội( vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Bùi Thị X- sinh năm 1955

Địa chỉ: P 27 nhà C1 tập thể T, quận Đ, Hà Nội( vắng mặt)

- Bà Bùi Thị L- sinh năm 1959

Địa chỉ: Số 1 ngách 637/16 đường T, tổ 13 phường T, quận H, Hà Nội( vắng

mặt)

Bà Bùi Thị N- sinh năm 1962

Địa chỉ: ngách 16 ngõ 637 tổ 9 phường T, quận H, Hà Nội

( vắng mặt)

- Bà Bùi Thị Huyền T- sinh năm 1964

Địa chỉ:, phường T, quận H, Hà Nội

( vắng mặt)

- Bà Bùi Thị Huyền T- sinh năm 1967

Địa chỉ: phường T, quận H, Hà Nội ( vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ :

Theo đơn yêu cầu cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, người yêu cầu là bà Bùi Thị T trình bày:

Bố tôi tên là Bùi Bài L, sinh năm 1931, mẹ tôi là Bùi Thị H, sinh năm 1931. Bố mẹ tôi kết hôn và sinh được 07 người con là: Bùi Thị X, sinh năm 1955; Bùi Thị T, sinh năm 1956; Bùi Thị L, sinh năm 1959, Bùi Thị N, sinh năm 1962, Bùi Thị Huyền T, sinh năm 1964, Bùi Thị Huyền T, sinh năm 1967, Bùi Kim Thanh, sinh năm 1970 . Bố và mẹ tôi ly hôn đã lâu, bố tôi mất năm 2003. Em gái tôi là Bùi Kim Thanh đã mất năm 2021. Mẹ tôi là Bùi Thị H từ trước hoàn tòan bình thường. Khoảng 15 năm trở lại đây, mẹ tôi có biểu hiện hay quên, giai đoạn đầu, thỉnh thoảng đi ra ngoài không nhớ đường về, bệnh ngày càng nặng. Khoảng 5 đến 6 năm trở lại đây, mẹ tội quên rất nhiều, phát âm khó, không nhận ra đồ vật quen thuộc. Đến năm 2018, mẹ tôi bị tai biến mạch máu não, gia đình đưa mẹ đi chữa bệnh tại bệnh viện Đa khoa Thanh Trì. Từ sau khi ra viện, mẹ tôi không đi lại được, nằm một chỗ, chân tay co quắp, mọi sinh hoạt đều phải do các con chăm sóc, giúp đỡ, thể trạng suy kiện, không nhận ra ai, không giao tiếp được.

Để thuận lợi cho việc làm các thủ tục hành chính liên quan khi cần thiết, bà Thuận làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mẹ đẻ là cụ Bùi Thị H mất năng lực hành vi dân sự. Do em gái Bùi Kim Thanh đã mất, 6 chị em chúng tôi cùng thống nhất đề nghị cử tôi làm người giám hộ cho mẹ tôi là bà Bùi Thị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Xét đơn yêu cầu của bà Bùi Thị T, xác định đây là việc dân sự Yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, người bị yêu cầu cư trú tại quận Hoàng Mai, Hà Nội nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai theo quy định tại khoản 1 điều 27, điểm a khoản 2 điều 35, điểm a khoản 2 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: cụ Bùi Bài Lai và cụ Bùi Thị H có quan hệ là vợ chồng. Hai ông bà sinh được 07 người con là: Bùi Thị X, sinh năm 1955; Bùi Thị T, sinh năm 1956; Bùi Thị L, sinh năm 1959, Bùi Thị N, sinh năm 1962, Bùi Thị Huyền T, sinh năm 1964, Bùi Thị Huyền T, sinh năm 1967, Bùi Kim Thanh, sinh năm 1970. Ngoài ra, các cụ không có người con riêng hay con nuôi nào khác. Cụ Bùi Bài Lai mất năm 2003, bà Bùi Kim T mất năm 2021.

Cụ Bùi Thị H bị tai biến mạch máu não, sa sút trí tuệ, không đi lại được, không nhận thức được ai, cần có người chăm sóc.

Tại bản kết luận số 250/2022/KLGĐ ngày 28/9/2022 của Viện pháp y tâm thần trung ương kết luận: tại thời điểm giám định, đối tượng Bùi Thị H bị bệnh mất trí trong bệnh Alzheimer. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F00. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, yêu cầu tuyên cụ Bùi Thị H mất năng lực hành vi dân sự của bà Bùi Thị T là có căn cứ, nên được chấp nhận.

Về chỉ định người giám hộ: Cụ Bùi Thị H và cụ Bùi Bài Lai đã ly hôn, cụ Lai cũng đã mất năm 2003; con gái là bà Bùi Kim Thanh cũng đã mất năm 2021. Bản thân cụ Hai chưa có kết hôn với ai, các con gái của cụ Bùi Thị H cùng thống nhất cử bà Bùi Thị T làm người giám hộ cho cụ Bùi Thị H. Thực tế hiện nay, bà Thuận cũng là người đang ở cùng và cùng trực tiếp chăm sóc cụ Hai. Do đó, có cơ sở để Tòa án chỉ định bà Thuận làm người giám hộ cho cụ Bùi Thị H khi Tòa án tuyên bố cụ Bùi Thị H mất năng lực hành vi dân sự.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị T về việc yêu cầu tuyên bố cụ Bùi Thị H mất năng lực hành vi dân sự. Chỉ định bà Bùi Thị T ( là con gái cụ Bùi Thị H) làm người giám hộ cho cụ Bùi Thị H. Bà Thuận có quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo quy định tại điều 57,58 Bộ luật dân sự.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Thuận phải nộp 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 27, điểm a khoản 2 điều 35; điều 39 và các điều 371, 372; 376 và điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điều 22,47,48,49,54,57,58 Bộ luật dân sự

Căn cứ vào điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14;

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Bùi Thị T về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.

Tuyên bố cụ Bùi Thị H là người mất năng lực hành vi dân sự.

Chỉ định bà Bùi Thị T là người giám hộ cho cụ Bùi Thị H. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo quy định tại điều 57, 58 Bộ luật dân sự.

2. Về lệ phí: bà Thuận phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí bà Thuận đã nộp tại biên lai số AA/2020/0050399 ngày 22/7/2022 của chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Bà Thuận đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ