- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Quyết định giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của Chị Phạm Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 36 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2021/QĐST-DS | A, ngày 21 tháng 5 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Bùi Duy Thạch
Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Tình – Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Ngọc Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện A mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 74/2020/TLST- VDS ngày 24 tháng 12 năm 2020 về việc "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 15/2021/QĐST-VDS ngày 11 tháng 5 năm 2021.
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị T; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện A1, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên họp.
- Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết: Bà Vũ Thị H; quê quán: Thôn Đ, xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng; ĐKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Trong đơn yêu cầu, trong quá trình tố tụng và tại phiên họp, người yêu cầu là chị Phạm Thị T trình bày: Chị Phạm Thị T có bà nội là Vũ Thị H - sinh năm 1947 (Quê quán: Thôn Đ, xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng; ĐKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng). Năm 1991 (không xác định được ngày, tháng cụ thể), bà Vũ Thị H đã bỏ đi biệt tích, không để lại địa chỉ; gia đình chị Phạm Thị T đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng đều không có kết quả, không ai biết được tin tức gì xác thực bà Vũ Thị H còn sống hay đã chết, bà Vũ Thị H cũng không có lần nào trở về địa phương.
Nay để thực hiện việc phân chia di sản do bố chị là Phạm Văn Long (chết năm 2020, không có di chúc) để lại, chị Phạm Thị T đề nghị Tòa án tuyên bố bà Vũ Thị H là người đã chết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến khẳng định:
- Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ việc và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký và Người yêu cầu đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết yêu cầu của Người yêu cầu: Bà Vũ Thị H đã biệt tích từ năm 1991 đến nay, đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà Vũ Thị H còn sống hay đã chết nên đề nghị Tòa án căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự tuyên bố bà Vũ Thị H là người đã chết.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện A nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ việc: Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết có nơi cư trú cuối cùng tại thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ việc thuộc Tòa án nhân dân huyện A.
Xét yêu cầu của Người yêu cầu: Bà Vũ Thị H đã bỏ đi biệt tích khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng từ năm 1991. Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm bà Vũ Thị H theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; quá thời hạn thông báo của Tòa án nhưng vẫn không có tin tức gì xác thực việc bà Vũ Thị H còn sống hay đã chết. Bà Vũ Thị H đã biệt tích 05 năm liền trở lên nên căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự cần chấp nhận đơn yêu cầu của Người yêu cầu, tuyên bố bà Vũ Thị H là người đã chết.
Về thời điểm chết của bà Vũ Thị H: Bà Vũ Thị H bỏ đi từ năm 1991 (không rõ ngày, tháng cụ thể) nên theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự, ngày bà Vũ Thị H bỏ đi biệt tích được xác định là ngày 01 tháng 01 năm 1992. Vì vậy thời điểm xác định bà Vũ Thị H đã chết là ngày 02 tháng 01 năm 1997 (sau 05 năm kể từ ngày bỏ đi biệt tích).
Về hậu quả pháp lý của việc bà Vũ Thị H bị tuyên bố là đã chết: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Vũ Thị H đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ về tài sản của bà Vũ Thị H được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà Vũ Thị H được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Về lệ phí Tòa án: Chị Phạm Thị T phải chịu lệ phí Tòa án theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm b khoản 2 Điều 39; các điều 370, 372, 391, 392 và 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự; căn cứ các điều 5, 6, 36 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016,
- Chấp nhận đơn yêu cầu của Chị Phạm Thị T.
Tuyên bố bà Vũ Thị H - sinh năm 1947 (Quê quán: Thôn Đ, xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng; ĐKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng) là người đã chết.
Thời điểm chết của bà Vũ Thị H là ngày 02 tháng 01 năm 1997.
- Về hậu quả pháp lý của việc bà Vũ Thị H bị tuyên bố là đã chết: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Vũ Thị H đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ về tài sản của bà Vũ Thị H được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà Vũ Thị H được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
- Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Chị Phạm Thị T phải nộp 300.000đ tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước. Chị Phạm Thị T đã nộp số tiền 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A (theo Biên lai thu tiền số 0012959 ngày 24 tháng 12 năm 2020) nên không phải nộp nữa.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hải Phòng; - VKSND huyện A; - Chi cục Thi hành án dân sự A; - UBND xã H; - Người yêu cầu; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | THẨM PHÁN Bùi Duy Thạch |