vanban.org

Quyết định 05/2021/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị C về việc yêu cầu tuyên bố ông Trần Văn L là đã chết.

Tuyên bố: Ông Trần Văn L, sinh năm: 1981; Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 6, thôn T, xã N, huyện C, tỉnh B đã chết. Ngày chết của ông Trần Văn L là ngày 02 tháng 01 năm 1998. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố ông Trần Văn L là đã chết: Khi quyết định tuyên bố ông Trần Văn L là đã chết có hiệu lực pháp luật… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Trần Thị C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị C về việc yêu cầu tuyên bố ông Trần Văn L là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2021/QĐDS-STChâu Đức, ngày 18 tháng 3 năm 2021.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trương Văn Tiến - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tham gia phiên họp: Bà Ngô Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức tiến hành mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 125/2020/TLST - VDS ngày 16/10/2020, về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”, theo Quyết định mở phiên họp số: 04/2021/QĐPH-ST ngày 10 tháng 3 năm 2021, giữa:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị C, sinh năm: 1952; vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ 6, thôn T, xã N, huyện C, tỉnh B.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần Văn N, sinh năm 1984; vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt;

Ông Trần Văn T, sinh năm 1986; vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt;

Ông Trần Văn C, sinh năm 1987; vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt;

Bà Trần Thị Ánh N, sinh năm 1988; vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt;

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện C, tỉnh B.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu và bản khai, người yêu cầu bà Trần Thị C, trình bày: Bà Trần Thị C và ông Võ Văn S kết hôn với nhau và sinh được 05 người con chung là Trần Văn L, Trần Văn N, Trần Văn T, Trần Văn C, Trần Thị Ánh N. Ông Võ Văn Sanh chết năm 2013. Trong số những người con thì có ông Trần Văn L từ khi sinh ra đã không được minh mẫn, từ nhỏ sống cùng gia đình ở xã Nghĩa Thành, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đến năm 1992 thì ông L bỏ nhà đi khỏi địa phương, gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức gì của ông L, không biết ông L ở đâu, còn sống hay đã chết. Trước khi mất tích thì ông L chưa có vợ con cũng không có cha nuôi, hay mẹ nuôi, người thân nào khác.

Nay bà Trần Thị C yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Văn L là đã chết để bổ sung hồ sơ thừa kế tài sản của gia đình.

Theo bản khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn N, ông Trần Văn T, ông Trần Văn C, bà Trần Thị Ánh N, trình bày: Ông Trần Văn L từ khi sinh ra đã không được minh mẫn, từ nhỏ sống cùng gia đình ở xã Nghĩa Thành, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đến năm 1992 thì ông L bỏ nhà đi khỏi địa phương, gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức gì của ông L, không biết ông L ở đâu, còn sống hay đã chết. Trước khi mất tích thì ông L chưa có vợ con cũng không có cha nuôi, hay mẹ nuôi, người thân nào khác.

Nay ông Trần Văn N, ông Trần Văn T, ông Trần Văn C, bà Trần Thị Ánh N đồng ý với yêu cầu của bà Trần Thị C đề nghị Tòa án tuyên bố ông Trần Văn L là đã chết để bổ sung hồ sơ thừa kế tài sản của gia đình.

Ngày 09 tháng 3 năm 2020 và ngày 22 tháng 02 năm 2021 tại Công an xã Nghĩa Thành nơi cư trú cuối cùng của ông Trần Văn L trước khi mất tích xác nhận nội dung đơn trình bày của bà C là đúng, ông Trần Văn L đi lạc từ năm 1992 đến nay không có mặt tại địa phương, từ khi ông L bỏ đi gia đình và địa phương không có tin tức gì của ông L.

Tại phiên họp: Bà Trần Thị C có đơn xin vắng mặt tại phiên họp và đề nghị Tòa án mở phiên họp vắng mặt bà C đồng thời giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Văn L là đã chết.

Ông Trần Văn N, ông Trần Văn T, ông Trần Văn C, bà Trần Thị Ánh N có đơn xin vắng mặt tại phiên họp và đề nghị Tòa án mở phiên họp vắng mặt ông N, ông T, ông C, bà N đồng thời giữ nguyên ý kiến đồng ý với đề nghị Tòa án tuyên bố ông Trần Văn L là đã chết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng trong vụ việc: Qúa trình giải quyết việc dân sự Thẩm phán, Thư ký phiên họp và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật dân sự. Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông bà Trần Thị C về việc tuyên bố ông Trần Văn L là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự trình bày trong đơn yêu cầu, bản khai và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức nhận định:

Về Tố tụng: Bà Trần Thị C có đơn yêu cầu tuyên bố ông Trần Văn L là đã chết nên đây là việc dân sự theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự; Nơi cư trú cuối cùng trước khi ông L mất tích là xã Nghĩa Thành, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, vì vậy việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Trần Thị C, ông Trần Văn N, ông Trần Văn T, ông Trần Văn C, bà Trần Thị Ánh N có đơn xin vắng mặt tại phiên họp và đề nghị Tòa án mở phiên họp vắng mặt nên Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Người yêu cầu bà Trần Thị C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn N, ông Trần Văn T, ông Trần Văn C, bà Trần Thị Ánh N cùng xác nhận bà Trần Thị C và ông Võ Văn S kết hôn với nhau và sinh được 05 người con chung là Trần Văn L, Trần Văn N, Trần Văn T, Trần Văn C, Trần Thị Ánh N. Ông Võ Văn S chết năm 2013. Trong số những người con thì có ông Trần Văn L từ khi sinh ra đã không được minh mẫn, từ nhỏ sống cùng gia đình ở xã Nghĩa Thành, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đến năm 1992 thì ông L bỏ nhà đi khỏi địa phương, gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức gì của ông L, không biết ông L ở đâu, còn sống hay đã chết. Trước khi mất tích thì ông L chưa có vợ con cũng không có cha nuôi, hay mẹ nuôi, người thân nào khác. Ngày 09 tháng 3 năm 2020 và ngày 22 tháng 02 năm 2021 tại Công an xã Nghĩa Thành nơi cư trú cuối cùng của ông Trần Văn L trước khi mất tích xác nhận nội dung: Đơn trình bày của bà C là đúng, ông Trần Văn L đi lạc từ năm 1992 đến nay không có mặt tại địa phương, từ khi ông L bỏ đi gia đình và địa phương không có tin tức gì của ông L.

Sau khi thụ lý giải quyết yêu cầu của bà Trần Thị C về việc yêu cầu tuyên bố ông Trần Văn L là đã chết,Tòa án nhân dân huyện Châu Đức đã tiến hành thông báo tìm kiếm ông L trên báo và trên các phương tiện thông tin đại chúng của trung ương theo quy định của pháp luật nhưng đến nay đã hơn 04 tháng kể từ ngày đăng phát nội dung thông báo vẫn không nhận được tin tức của ông L.

Xét việc ông Trần Văn L bỏ đi khỏi địa phương từ năm 1992 đến nay đã biết tích hơn 05 năm, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về ông Trần Văn L còn sống hay đã chết nên bà Trần Thị C là mẹ của ông L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông L đã chết là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 71 của Bộ luật Dân sự.

Xác định ngày chết: Bà Trần Thị C không xác định được cụ thể ngày, tháng ông L đi khỏi nơi cư trú mà chỉ xác định ông L bỏ đi vào năm 1992 do đó theo quy định tại khoản 1, Điều 68 Bộ luật dân sự xác định ngày ông L biết tích từ ngày 01 tháng 01 năm 1993. Vì vậy xác định ngày chết của ông L là ngày 02 tháng 01 năm 1998 (sau 05 năm kể từ ngày biệt tích);

Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố ông Trần Văn L là đã chết: Khi quyết định tuyên bố ông Trần Văn L là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông Trần Văn L được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Trần Văn L được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Về lệ phí: Bà Trần Thị C là người cao tuôi, có đơn đề nghị miễn lệ phí, theo quy định tại khoản 2 Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thương vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án thì bà Trần Thị C được miễn lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 71 của Bộ luật Dân sự, các Điều 370, Điều 371, Điều 372 và 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thương vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị C về việc yêu cầu tuyên bố ông Trần Văn L là đã chết.

Tuyên bố: Ông Trần Văn L, sinh năm: 1981; Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 6, thôn T, xã N, huyện C, tỉnh B đã chết. Ngày chết của ông Trần Văn L là ngày 02 tháng 01 năm 1998.

- Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố ông Trần Văn L là đã chết: Khi quyết định tuyên bố ông Trần Văn L là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông Trần Văn L được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Trần Văn L được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

- Lê phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị C được miễn nộp tiền lệ phí dân sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày công bố quyết định (ngày 18 tháng 3 năm 2021) các đương sự có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo; Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ