- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Cao Thị Minh Nh - Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Cao Thị Minh Nh.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2020/QĐST- DS | TP. Hải Dương, ngày 15 tháng 7 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu.
- Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Nhiệm - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2020/TLST - VDS ngày 07/02/2020 về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp số 03/2020/QĐST-DS ngày 02/7/2020 và Quyết định hoãn phiên họp số 03/2020/QĐ - TA ngày 07/7/2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Chị Cao Thị Minh Nh, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Số 229 H, khu 2, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương. (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Cao Thị Kiều Tr, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Số nhà 89 phố T, Khu 10, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. (Có mặt).
+ Ông Cao Minh Kh, sinh năm 1952
Địa chỉ: Số 229 H, khu 2, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương. (Có mặt).
+ Bà Phạm Thị L, sinh năm 1953.
+ Chị Cao Thị Tố Q, sinh năm 1984.
Đều có nơi cư trú cuối cùng: Số nhà 151, ngõ 153, khu 13, xã Th, thị xã H, tỉnh Hải Hưng (nay là số 299 H, khu 2, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương).
Bà L, chị Qu vắng mặt tại phiên họp.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Cao Thị Minh Nh, chị Cao Thị Kiều Tr, ông Cao Minh Kh thống nhất trình bày:
Ông Cao Minh Kh kết hôn với bà Phạm Thị L năm 1977 và sinh được 04 người con gồm: Cao Thị Kiều Tr, sinh năm 1977; Cao Thị Thanh H, sinh năm 1980; Cao Thị Minh Nh, sinh năm 1982; Cao Thị Tố Q, sinh năm 1984. Do tính cách, quan điểm sống không hợp nhau nên đến năm 1991 ông Kh và bà L đã được TAND thị xã H, tỉnh Hải Hưng (nay là TAND thành phố H) giải quyết cho ly hôn. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 33 ngày 18/9/1991 của Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Hải Hưng (nay là Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương) thì ông Kh trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Cao Thị Minh Nh và Cao Thị Kiều Tr; bà L trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Cao Thị Thanh H và Cao Thị Tố Qu. Sau khi ly hôn, ông Kh, bà L và 04 người con chung vẫn tiếp tục sinh sống tại nhà đất số 151, ngõ 153, khu 13, xã Th, thị xã H, tỉnh Hải Hưng (nay là số 299 H, khu 2, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương). Năm 1993 (không nhớ ngày, tháng cụ thể), bà L cùng chị H, chị Q đi khỏi địa phương. Khi đi bà L và chị H, chị Q không nói gì cho gia đình cũng như chính quyền địa phương biết là đi đâu, làm gì. Từ năm 1993 đến nay gia đình chị đã đi tìm kiếm nhiều nơi, nhờ Đài truyền hình Việt Nam đăng tin tìm kiếm bà L, chị H, chị Q nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị H, chị Q và bà L là còn sống. Vì vậy chị Nh làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương tuyên bố chị gái chị là Cao Thị Thanh H là đã chết. Chị Tr, ông Kh nhất trí với yêu cầu của chị Nh và không có ý kiến gì khác.
Người làm chứng là bà Nguyễn Thị Th (chị gái bà L) trình bày: Bố mẹ bà là cụ Phạm Văn H (đã chết năm 1966), cụ Đỗ Thị Ng (đã chết năm 2010). Bố mẹ bà sinh được hai người con là bà và bà Phạm Thị L. Bà nhất trí với trình bày của chị Nh, chị Tr, ông Kh về quá trình sinh sống của bà L, chị H, chị Q. Bà L, chị H, chị Q bỏ nhà đi từ năm 1993 đến nay, khi đi không nói gì với bà và gia đình là đi đâu, làm gì. Đến nay bà cũng không có tin tức gì về việc bà L, chị H, chị Q. Nay chị Nh yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Cao Thị Thanh H là đã chết bà không có ý kiến gì.
Tại phiên họp: Chị Nh giữ nguyên quan điểm yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Cao Thị Thanh H là đã chết. Ông Kh, chị Tr nhất trí với quan điểm của chị Nh và không có ý kiến gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương xác định Thẩm phán, Thư ký phiên họp, các đương sự đã tuân theo và chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự; việc thu thập chứng cứ đủ để giải quyết việc dân sự. Về nội dung: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 71 Bộ luật dân sự; Điều 391, 392, 393 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Chấp nhận yêu cầu của chị Cao Thị Minh Nh về việc Tuyên bố chị Cao Thị Thanh H là đã chết. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố chị Cao Thị Thanh H là đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự. Về lệ phí: Buộc chị Nh phải chịu 300.000đ lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương nhận định:
. Về nội dung: Năm 1991, sau khi bà L và ông Kh ly hôn thì chị Cao Thị Thanh H và Cao Thị Tố Q sống cùng bà L tại địa chỉ: số 151, ngõ 153, khu 13, xã Th, thị xã H, tỉnh Hải Hưng (nay là số 299 H, khu 2, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương). Khoảng năm 1993 thì chị H cùng bà L, chị Q bỏ nhà đi không nói gì với gia đình là đi đâu, làm gì. Gia đình không nhớ rõ chị H bỏ đi vào ngày nào, tháng nào, chỉ nhớ bỏ đi vào năm 1993. Chị Nh và gia đình đã đi tìm kiếm nhiều nơi nhưng vẫn không biết hiện nay chị H ở đâu, làm gì, không có tin tức xác thực là còn sống.
Sau khi thụ lý giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết theo yêu cầu của chị Nh, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương đã tiến hành xác minh tại UBND phường L và Công an phường là nơi cư trú cuối cùng của chị Cao Thị Thanh H trước khi bỏ đi đều xác định: Chị H cùng mẹ đẻ là bà L và em gái là chị Q đã bỏ nhà đi từ năm 1993, khi đi ba mẹ con chị H không khai báo với chính quyền địa phương là đi đâu, làm gì, địa chỉ ở đâu. Đến nay địa phương cũng không biết chị H cũng như bà L, chị Q ở đâu, làm gì, không có tin tức xác thực là còn sống.
UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương xác định từ năm 1993 đến nay, chị Q, bà L, chị H không sinh sống tại địa phương thời gian nào. Người thân duy nhất của bà L ở xã Đ là bà Phạm Thị Th cũng không có tin tức về bà L, chị H, chị Q từ năm 1993 đến nay. Tháng 7/2019, gia đình chị H đã đăng tin tìm chị H trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có tin tức gì.
Quá trình giải quyết đơn yêu cầu của chị Nh, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 01/2020/QĐ-TA ngày 18/02/2020 và thực hiện việc công bố thông báo theo quy định pháp luật: Đăng trên báo nhân dân 03 số liên tiếp vào các ngày 29/02/2020; 01/3/2020; 02/3/2020; Đăng trên đài tiếng nói Việt Nam 03 kỳ phát sóng liên tiếp vào các ngày 29/2/2020 và 01,02/3/2020 và đăng trên cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân; Cổng thông tin điện tử tỉnh Hải Dương nhưng đến nay vẫn không có tin tức xác thực về việc chị H còn sống. Tòa án cũng đã có công văn gửi cục xuất nhập cảnh - Bộ công an đề nghị cung cấp thông tin xem chị Cao Thị Thanh H có xuất cảnh hay không. Theo công văn trả lời số 2422/QLXNC – P5 ngày 27/02/2020 của Cục quản lý xuất nhập cảnh thì không có thông tin cấp hộ chiếu và xuất nhập cảnh của chị Cao Thị Thanh H. Đồng thời với yêu cầu Tòa án tuyên bố chị H là đã chết, chị Nh cũng yêu cầu Tòa án tuyên bố bà L, chị Q là đã chết và đến nay không có tin tức về bà L, chị Q.
Từ những chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở xác định chị Cao Thị Thanh H biệt tích từ năm 1993 đến nay không có tin tức xác thực là còn sống. Người yêu cầu chị Cao Thị Minh Nh; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tr, ông Kh cũng như chính quyền địa phương không cung cấp được tài liệu cũng như không có chứng cứ nào thể hiện chị H biệt tích vào ngày nào cụ thể, chỉ biết chị H bỏ nhà đi từ năm 1993. Do vậy căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 71; khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự xác định thời điểm biết được tin tức cuối cùng của chị H được xác định là ngày 01/01/1994 và thời gian chị H biệt tích đến nay là hơn 26 năm. Vì vậy yêu cầu tuyên bố chị Cao Thị Thanh H là đã chết của chị Cao Thị Minh Nh là có căn cứ, cần được chấp nhận.
Về lệ phí: Người yêu cầu phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 367, 370, 371, 372, 391, 393 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 71, 72 Bộ luật dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Cao Thị Minh Nh.
Tuyên bố chị Cao Thị Thanh H, sinh năm 1980, nơi cư trú cuối cùng: Số nhà 151, ngõ 153, khu 13, xã Th, thị xã H, tỉnh Hải Hưng (nay là số 229 H, khu 2, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương) là đã chết kể từ ngày 15/7/2020.
2. Hậu quả pháp lý tuyên bố một người là đã chết
Khi quyết định của Tòa án tuyên bố chị Cao Thị Thanh H đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ nhân thân của chị Cao Thị Thanh H được giải quyết như đối với một người đã chết. Quan hệ tài sản của chị Cao Thị Thanh H được giải quyết như đối với một người đã chết; tài sản của chị Cao Thị Thanh H được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Về lệ phí việc dân sự: Chị Cao Thị Minh Nh phải chịu 300.000đ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền 300.000đ chị Nh đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng số AA/2018/0000893 ngày 04/02/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương. Chị Nh đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp lệ phí.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đương sự vắng mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thành phố Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố Hải Dương; - UBND phường L, TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương; - Lưu. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Thị Thu |