vanban.org

Quyết định 05/2019/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 21/06/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 34/2019/QĐ-ST ngày 22 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân huyện Thới Lai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/003412 ngày 03/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai. Án phí dân sự sơ thẩm, chi phí thẩm định, định giá tài sản được giải quyết trong quá t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 34/2019/QĐ-ST ngày 22 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân huyện Thới Lai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2019/QĐ-PTCần Thơ, ngày 21 tháng 6 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Chế Linh

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Hoàng Dũng

Ông Thiềm Quốc Khanh

Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 34/2019/QĐ-ST ngày 22 tháng 3 năm 2019

Toà án nhân dân huyện Thới Lai đã căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 192, Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giữa:

Nguyên đơn: Ông Võ Văn Tư, sinh năm 1969.

Địa chỉ: ấp Trường Khánh, xã Trường Thắng, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Đăng Hữu; cư trú tại 58C Hùng Vương, phường Thới Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 12/5/2017).

Bị đơn: Bà Mai Thị Thương, sinh năm 1937

Địa chỉ: ấp Trường Khánh, xã Trường Thắng, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Ông Võ Văn Út, sinh năm 1946

Địa chỉ: ấp Trường Khánh, xã Trường Thắng, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

2.Bà Trần Thị Em, sinh năm 1948

Địa chỉ: ấp Trường Khánh, xã Trường Thắng, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

3.Ông Võ Hoàng Tuấn, sinh năm 1960

Địa chỉ: ấp Trường Khánh, xã Trường Thắng, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

Tại đơn kháng cáo ngày 02 tháng 4 năm 2019, ông Võ Văn Tư là nguyên đơn kháng cáo với lý do: Thứ nhất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 102/CN ngày 28/9/2004 của nguyên đơn với bị đơn đã được công chứng, chứng có văn bản thay thế hợp đồng này và việc tuyên án tại bản án số 94/2016/DSST ngày 12/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai cũng không giải quyết hậu quả gì đối với hợp đồng này. Thứ hai, việc đình chỉ với lý do tranh chấp đã được giải quyết là trái với nội dung giải quyết khiếu nại trước đây khi mà nguyên đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân huyện Thới Lai trả lại đơn kiện.

XÉT THẤY:

Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Võ Văn Tư và bà Mai Thị Thương mà Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã thụ lý là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Thấy rằng, cho đến nay, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 102/CN ngày 28/9/2004 của nguyên đơn với bị đơn (sau đây gọi tắt là hợp đồng số 102) vẫn còn tồn tại. Bởi lẽ, bản án số 94/2016/DSST ngày 12/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai (sau đây gọi tắt là bản án số 94) chưa hề tuyên vô hiệu hay tuyên hủy bỏ đối với hợp đồng này. Trong trường hợp, khi giải quyết tranh chấp theo bản án số 94 vừa nêu mà một trong các bên đương sự liên quan có yêu cầu đối với hợp đồng số 102 và Tòa án ra phán quyết thì mới được xem là vụ án đã được giải quyết bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật. Lúc bấy giờ, các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với hợp đồng số 102 và trong phạm vi khởi kiện nên bản án số 94 cũng không đưa ra phán quyết đối với hợp đồng này.

Rõ ràng, cho đến nay, phía bà Thương cũng như ông Tư, ông Út hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết đối với hợp đồng số 102. Việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào phần nhận định của bản án số 94 để cho rằng quan hệ tranh chấp đối với hợp đồng 102 đã giải quyết là không đúng pháp luật.

Hơn nữa, để giải quyết vụ kiện, Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã ra quyết định thẩm định tại chổ và có thu tạm ứng chi phí của nguyên đơn vào ngày 31/5/2017 với số tiền 4.000.000 đồng nhưng khi đình chỉ giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa giải quyết là thiếu sót.

Từ những nhận định trên, việc Tòa án nhân dân huyện Thới Lai ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên là không chính xác và có thiếu sót nên cần hủy bỏ quyết định đình chỉ để giải quyết lại vụ án nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên.

Về án phí phúc thẩm, người kháng cáo không phải chịu án phí theo quy định tại khoản 3 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 34/2019/QĐ-ST ngày 22 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân huyện Thới Lai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.

2.Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/003412 ngày 03/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai.

Án phí dân sự sơ thẩm, chi phí thẩm định, định giá tài sản được giải quyết trong quá trình tiếp tục giải quyết vụ án.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ