vanban.org

Quyết định 05/2019/HSST-QĐ — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 17/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trả hồ sơ vụ án hình sự thụ lý số 537/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo: Phạm Văn L, tên gọi khác: Không, sinh ngày 22/12/1957, tại Lạng Sơn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: tổ X, phường ĐQ, TPTN, tỉnh Thái Nguyên cùng đồng phạm.

Bị truy tố về tội " Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng" theo quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 221 của Bộ luật hình sự Cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn L-Bị truy tố về tội " Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng" theo quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 221 của Bộ luậ…"
  • Tòa quyết gì? Trả hồ sơ vụ án hình sự thụ lý số 537/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo: Phạm Văn L, tên gọi khác: Không, sinh ngày 22/12/1957, tại Lạng Sơn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: tổ X, phường ĐQ, TPTN, tỉnh Thái Nguyên cùng đồng phạm.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 127/2008/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn t…; Luật BHXH; Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2019/HSST- QĐThái Nguyên, ngày 17 tháng 05 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG

TÒA ÁN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phá n - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Bích Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Đỗ Phượng

2. Ông Trần Xuân Viện

Căn cứ vào các Điều 280 và Điều 299 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ kết quả việc xét hỏi phiên tòa thấy:

1. Bị cáo Phạm Văn L, bị cáo Bùi Thị Thúy Hg và Mai Thị Thúy Hg1 xác định sau khi có Kết luận số 761/KL-TTR ngày 26/12/2016 của Thanh tra tỉnh Thái Nguyên đã bị Sở lao động- thương binh và xã hội Thái Nguyên ban hành Quyết định số 3930/QĐ-SLĐTBXH ngày 27/03/2017 thi hành kỷ luật đối với bị cáo Lộc hình thức “Cảnh cáo”; Quyết định số 3931/QĐ-SLĐTBXH ngày 27/03/2017 thi hành kỷ luật Bùi Thị Thúy Hg hình thức “Khiển trách”; Trung tâm dịch vụ việc làm Sở lao động TBXH tỉnh Thái Nguyên ban hành Quyết định số 63/QĐ-TTDVVL ngày 16/03/2017 thi hành kỷ luật Mai Thị Thúy Hg1 hình thức “Khiển trách”. Tại phiên tòa các bị cáo xác định đến nay chưa nhận được Quyết định bãi bỏ các quyết định trên, đồng thời Cơ quan điều tra có văn bản yêu cầu 2 cơ quan ban hành Quyết định “Hủy bỏ Quyết định kỷ luật đối với các bị cáo”. Tại phiên tòa viện kiểm sát nhân dân thành phố cung cấp văn bản trả lời của Trung tâm dịch vụ việc làm Sở lao động thương binh xã hội tỉnh Thái Nguyên ngày 14/5/2019 và của Sở lao động thương binh xã hội tỉnh Thái Nguyên ngày 16/05/2019 xác định các Quyết định kỷ luật đã hết hiệu lực nên không thực hiện hủy bỏ quyết định theo yêu cầu của cơ quan điều tra công an thành phố Thái Nguyên. Tuy nhiên theo quy định Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định:

Điều 3: 1..d “…Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần”;

Điều 62:

2. “Trong quá trình thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu hành vi vi phạm được phát hiện có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự …..chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.”

3.… nếu cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có quyết định khởi tố vụ án thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải huỷ bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính…”

Do đó cùng một hành vi các bị cáo vừa bị xử lý vi phạm hành chính vừa bị xử lý về hình sự là vi phạm quy định pháp luật.

2. Trong năm 2014, 2015 có 05 cán bộ quản lý 31 lớp học có mặt 04 cán bộ quản lý lớp học, tại phiên tòa có mặt 04 cán bộ quản lý lớp, vắng mặt cán bộ quản lý Nguyễn Đức T tuy nhiên qua lời khai của những người có mặt tại phiên tòa xác định: với vai trò cán bộ quản lý lớp thì tất cả cán bộ quản lý lớp mặc dù biết số lượng học viên tham gia lớp học không đúng thực tế với lớp học được mở, thời lượng học bị cắt giảm, không cấp phát tài liệu (hoặc số liệu cấp phát không đúng như đã kê thanh toán), không cấp phát nguyên vật liệu thực hành, một số lớp không có giáo viên hoặc thời lượng thực tế tại các lớp học ít, việc khai giảng, bế giảng thường không phải lập maket, không mua hoa mua hoa. Tuy nhiên cả 05 cán bộ quản lý lớp đều phải thiết lập hồ sơ để dảm bảo việc thanh quyết toán theo dự toán đưa ra như: Lập hóa đơn mua bán hoa, market, lập danh sách cấp phát văn phòng phẩm, Lập bảng chấm công học viên, giáo viên ký hóa đơn mua hàng là văn phòng phẩm, hợp đồng mua bán hoặc thuê vật liệu liên quan đến thực hành, lập bảng kê danh sách phát lương giáo viên, Ký hóa đơn thuê xe đi thực tế. Không được nhận tiền để thanh toán vẫn ký xác nhận vào các phiếu chi: Mua hoa, Market, thanh toán văn phòng phẩm, thuê xe, chi thuê giáo viên quản lý lớp.

3. Đối với Mai Thị Hoàng A trách nhiệm là thủ quỹ từ tháng 1/2014 đến hết tháng 6/2014 trực tiếp ký các Hóa đơn mua hàng văn phòng phẩm, ký hóa đơn mua bán nguyên vật liệu thực hành, mua hoa, market, nhận tiền chi lương giáo viên, ký hóa đơn thanh toán thuê xe. Đồng thời sau khi nhận được tiền từ kho bạc đã thanh quyết toán trừ số tiền chi thực tế và nộp thuế, bị cáo không nhập quỹ mà bàn giao lại cho Phạm Việt H mặc dù Hoàng A biết trên thực tế không cấp phát hoặc cấp phát không đúng thực tế như đã kê khai tuy nhiên cơ quan điều tra không làm rõ thực tế số tiền Hoàng A đã lập khống là bao nhiêu?

Vũ Thu H1 với trách nhiệm là thủ quỹ đối với 25 lớp nghề từ tháng 7/2014 không thực hiện việc đúng quy định về trách nhiệm quản lý quỹ tiền mặt, không nhập quỹ đơn vị đối vối số tiền được cấp, sau khi trừ số tiền đã thanh toán thực tế đã bàn giao toàn bộ cho Phạm Việt H. Quá trình thanh quyết toán các lớp nghề mặc dù biết các lớp học không mua hoa, hoặc làm market H1 vẫn ký hóa đơn thanh toán và nhận số tiền chi mua hoa, market, nước uống; biết việc chi lương giáo viên không đúng thực tế hoặc không chi tuy nhiên H1 vẫn ký xác nhận tiền chi cho giáo viên 19 lớp với số tiền trên 200.000.000đ, ngoài ra biết không thanh toán tiền người quản lý lớp vẫn ký xác nhận chi, ký hóa đơn thanh toán tiền thuê xe đến nay chưa làm rõ.

4. Tại phiên tòa đại diện BHXH tỉnh Thái Nguyên xác định căn cứ Nghị định 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về bảo hiểm thất nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật BHXH quy định trách nhiệm thanh tra về việc tổ chức, học và thời gian học của các lớp nghề được hưởng trợ cấp thất nghiệp thuộc trách nhiệm của Sở lao động thương binh xã hội, tuy nhiên quá trình điều tra cơ quan điều tra chưa làm rõ để xác định trách nhiệm của Sở lao động trong việc thanh tra, kiểm tra đối với 31 lớp nghề tại Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh Thái Nguyên trong 2 năm 2014-2015.

5. Đối với những người bán hàng là Ngô Thị Hồng Ng, Nguyễn Thị Th, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị Minh H3(tức H3), Ngô Thị Lan H4… mặc dù biết thực tế hàng hóa do Trung tâm dịch vụ việc làm (TTDVVL) mua không đúng số lượng như hóa đơn nhưng vẫn xuất hóa đơn bán hàng theo yêu cầu của TTDVVL và Bà Nguyễn Thị L giám đốc Công ty TNHH vận tải du lịch PL mặc dù biết TTDVVL không thuê xe tuy nhiên vẫn ký hợp đồng thuê xe với TTDVVL.

Để tránh bỏ lọt người phạm tội, cũng như có vi phạm tố tụng trong quá trình xét xử vụ án, Hội đồng xét xử:

QUYẾT ĐỊNH

Trả hồ sơ vụ án hình sự thụ lý số 537/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo: Phạm Văn L, tên gọi khác: Không, sinh ngày 22/12/1957, tại Lạng Sơn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: tổ X, phường ĐQ, TPTN, tỉnh Thái Nguyên cùng đồng phạm.

Bị truy tố về tội " Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng" theo quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 221 của Bộ luật hình sự

Cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Để điều tra bổ sung vấn đề sau đây:

1. Đề nghị cơ quan ban hành Quyết định kỷ luật đối với Phạm Văn L, Bùi Thị Thúy Hg và Mai Thị Thúy Hg1 thực hiện hủy bỏ các Quyết định kỷ luật theo quy định tại Điều 62 Luật xử lý vi phạm hành chính.

2. Xem xét vai trò, trách nhiệm của các cán bộ quản lý lớp học Chu Thị Ph, Lâm Thị Th, Đào Duy B, Dương Ngọc T6, Nguyễn Đức T trong việc lập hồ sơ, chứng từ, ký nhận các phiếu chi, ký kết các hợp đồng không đúng thực tế lớp học để thực hiện thanh quyết toán đối với 31 lớp nghề để làm rõ hành vi của các cán bộ quản lý đồng thời có biện pháp xử lý trách nhiệm theo quy định pháp luật?.

3. Làm rõ vai trò, trách nhiệm của các thủ quỹ Mai Thị Hoàng A, Vũ Thu H1 trong việc quản lý quỹ, thực hiện ký kết các hợp đồng, ký nhận các phiếu chi không đúng thực tế để thực hiện thanh quyết toán đối với 31 lớp nghề dẫn đến gây hậu quả nghiêm trọng đồng thời có biện pháp xử lý trách nhiệm theo quy định pháp luật?.

4.Xem xét trách nhiệm của Sở LĐTBXH trong việc thanh tra kiểm tra đối với 31 lớp học nghề cho đối tượng được hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp trong năm 2014-2015.

5) Làm rõ trách nhiệm của những người bán hàng trong việc cung cấp các hóa đơn bán hàng cho TTDVVL và Trách nhiệm của Công ty TNHH vận tải du lịch Phúc Lý trong việc cung cấp các hóa đơn cho TTDVVL thực hiện việc thanh quyết toán để xử lý theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ