vanban.org

Quyết định 05/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 22/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06/12/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Thuận gây thương tích cho Nguyễn Tuấn Anh - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật TTHS tuyên bố quyền kháng cáo bản án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05 /2019/HS - ST
Ngày: 22/02/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Dệt

Bà Nguyễn Thị Anh

Thư ký phiên tòa: Bà Doãn Phương Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 62/2018/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2018. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Thuận, sinh ngày 08/6/1987.

Nơi sinh và trú tại: Thôn T, xã Tr, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Th và bà Trịnh Thị T; Có vợ Khương Thị Y ( đã ly hôn) có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt theo quyết định truy nã ngày 06/12/2018 sau đó chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt.)

- Bị hại: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1988(Có mặt.)

Địa chỉ: Thôn T, xã Tr, huyện N, Thanh Hóa.

-Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992(Vắng mặt.)

Địa chỉ: Thôn T, xã Tr, huyện N, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 19/9/2018, Nguyễn Văn Th đi uống rượu về đến trước quán trà sữa nhà anh Nguyễn Văn Đ tại thôn T, xã Tr, huyện N thì Nguyễn Tuấn Ađiều khiển xe mô tô đi đến. Th cho rằng Tuấn A đi mô tô nẹt bô gây ồn ào nên chửi bới Tuấn A và dùng chân đá một cái vào hông. Tuấn A xuống xe nói: “ Mi đánh tau à ?” và dùng tay đẩy một phát vào người Th. Th lùi lại lấy từ trong người ra một con dao dạng bấm màu trắng dài khoảng 15cm, dùng tay phải cầm dao đâm vào hông bên trái Tuấn A. Sau đó Tuấn A lùi lại, Th lại tiến lên dùng dao đâm nhiều phát nữa. Trong đó có một nhát trúng vào phần hông bên phải. Tuấn A giằng co rồi chạy vào quán nhà anh Đ, còn Th cất con dao vào trong người. Sau đó đi đi bộ về hướng UBND xã Tr rồi bỏ trốn khỏi địa phương. Tuấn A bị thương tích được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đã khoa Tâm Đức - N và điều trị từ ngày 19/9/2018 đến ngày 21/9/2018 thì ra viện.

Theo Bệnh án ngoại khoa của bệnh viện Đa khoa Tâm Đức Cầu Quan số 58737/08 ngày 21 tháng 9 năm 2018 tổng kết bệnh án đối với người bị hại Nguyễn Tuấn A như sau: Đa vết thương phần mềm do dao đâm.

Ngày 05 tháng 11 năm 2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trưng cầu trung tâm pháp y tỉnh Thanh hóa giám định mức độ tổn hại sức khỏe cho anh Nguyễn Tuấn A, tại Bản kết luận giám định pháp y số: 613/2018/TTPY ngày 01/10/2018 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận Nguyễn Tuấn A có thương tích như sau:

- Sẹo vết thương phần mềm vùng hông trái kích thước: 1x0,2cm; sẹo liền tốt.

- Sẹo vết thương phần mềm vùng hông phải kích thước: 1x0,2cm; sẹo liền tốt.

* Khám chuyên khoa Thần kinh: Hiện tại không thấy tổn thương thần kinh do chấn thương.

Kết luận: Các sẹo vết thương phần mềm vùng hông trái; vùng hông phải; số lượng sẹo ít, kích thước nhỏ: 3% (Thông tư 20/2014/TT-BYT; bảng 1; chương 9; mục I; 1). Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể ( theo phương pháp cồng lùi; Điều 4 – Thông tư 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ y tế) là: 3% (ba phần trăm)

Trong quá trình điều tra xác minh vụ án, Nguyễn Văn Thkhông có mặt ở địa phương. Cơ quan CSĐT đã tiến hành khởi tố vụ án và khởi tố bị can, ban hành Quyết định truy nã số 01/CSĐT ngày 03/12/2018 đối với bị can Nguyễn Văn Th. Ngày 06/12/2018 Cơ quan CSĐT bắt được bị can Nguyễn Văn Th tại xã Tr và ra Lệnh tạm giam số 06/CSĐT đối với bị can về tội cố ý gây thương tích.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn Th thừa nhận có hành vi gây thương tích cho anh Nguyễn Tuấn A. Tuy nhiên Th không thừa nhận sử dụng con dao dạng bấm màu trắng dài khoảng 15cm (theo bị hại và người làm chứng mô tả) mà trình bầy sử dụng một thanh thép kích thước phi 6, màu trắng, dài khoảng 30cm nhặt ở trên đường để gây thương tích cho anh Nguyễn Tuấn A. Sau khi gây án Th ném ở lề đường, ngay tại vị trí xảy ra vụ việc.

* Vật chứng vụ án:

- Quá trình điều tra xác định được Nguyễn Văn Th đã dùng dao gây thương tích cho anh Tuấn A, là loại dao bấm, nhọn bằng kim loại màu trắng dài khoảng 15 cm, sau khi gây thương tích Th cất vào người. Tuy nhiên Th không thừa nhận việc này nên Cơ quan CSĐT đã tiến hành truy tìm tại thôn T, xã Tr (tại khu vực xung quanh hiện trường vụ án) nhưng không tìm thấy.

* Về phần dân sự:

Người bị hại anh Nguyễn Tuấn A không yêu cầu bị cáo phải bồi thường và bị cáo cũng chưa chủ động bồi thường thiệt hại cho người bị hại.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS, ngày 28/01/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố Nguyễn Văn Th về tội “ Cố ý gây thương tích” theo điểm a, khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Đồng thời đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện VKS luận tội khẳng định bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “ Cố ý gây thương tích ” Đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 điều 51; Điều 38 BLHS. Đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Th từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Trách nhiệm dân sự: Chấp nhận bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Bị cáo phải chịu tiền án phí HSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Nhận định về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của VKSND huyện N, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Nhận định về hành vi phạm tội của bị cáo:

Thông qua tranh tụng tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn Th thừa nhận: Vào 22 giờ 30 phút, ngày 19/9/2018 do mâu thuẫn cá nhân, Th đã dùng dao bấm đâm vào hông anh Nguyễn Tuấn A gây thương tích. Hậu quả anh Nguyễn Tuấn A bị tổn thương cơ thể 3%.

Đối chiếu với lời khai của bị cáo, người bị hại, kết quả giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thấy hoàn toàn phù hợp. Như vậy, có đủ căn cứ chứng minh: Bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “ Cố ý gây thương tích”. Tội danh chính thức được thành lập theo điểm a khoản 1 điều 134 BLHS, với tình tiết định khung dùng hung khí nguy hiểm. VKSND huyện Nông Cống truy tố bị cáo theo tội danh trên, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm như sau:

Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó xâm phạm đến thân thể, sức khoẻ của người khác – một khách thể đặc biệt được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, i khoản 1 điều 51 BLHS. Căn cứ vào tính chất và các tình tiết của vụ án, HĐXX xét thấy tuy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng sau khi phạm tội đã bỏ trốn, cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã. Căn cứ khoản 2 điều 3 Nghị Quyết số 02/2018 ngày 15/5/2018 về án treo HĐXX quyết định áp dụng hình phạt nghiêm khắc trong môi trường giam giữ một thời gian. Có như vậy mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

[ 5] Về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí:

Tại phiên tòa người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bị cáo bị kết án có tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06/12/2018.

- Trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu.

- Án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Khoản 1 Điều I Mục A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị Quyết.

Tuyên Nguyễn Văn Th phải chịu 200.000đ( hai trăm nghìn) tiền án phí HSST.

- Quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 điều 331, 333 Bộ luật TTHS tuyên bố quyền kháng cáo bản án cho bị cáo, người bị hại trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ