vanban.org

Quyết định 05/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 25/06/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị B. Tuyên bố ông Nguyễn Văn A là đã chết kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật.

Hậu quả pháp lý: 1. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyen bo mot nguoi la da chet"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị B. Tuyên bố ông Nguyễn Văn A là đã chết kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẢO LỘC
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2018/QĐDS-ST
Ngày 25/6/2018
V/v: Tuyên bố một người là đã
chết.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Đức Công - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Ông Phạm Anh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên họp: Ông Trần Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 12/2018/TLST-DS ngày 31 tháng 01 năm 2018, về “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”, theo Quyết định mở phiên họp số: 22/2018/QĐPH-ST ngày 14 tháng 6 năm 2018:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1952

Địa chỉ: Số nhà 637/42 đường N, phường L, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt).

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1959

Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 9, phường L, thị xã Bảo Lộc (Nay là số nhà 637/42 đường N, Tổ 9, phường L, thành phố Bảo Lộc), tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt).

3. Người làm chứng:

3.1. Chị Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1985

Địa chỉ: Số nhà 637/42 đường N, phường L, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. (Có đơn đề nghị vắng mặt).

3.2. Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1986

Địa chỉ: Số nhà 637/42 đường N, phường L, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. (Có đơn đề nghị vắng mặt).

3.3. Anh Nguyễn Khánh H, sinh năm 1990

Địa chỉ: Số nhà 637/42 đường N, phường L, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. (Có đơn đề nghị vắng mặt).

4. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Nguyễn Thị B yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố ông Nguyễn Văn A là đã chết với lý do, mục đích để hoàn tất thủ tục thừa kế về tài sản theo qui định của pháp luật và tạo sự ổn định cuộc sống cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng nhận định:

Về pháp luật tố tụng:

Người yêu cầu bà Nguyễn Thị B yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn A là đã chết. Căn cứ vào khoản 4 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định yêu cầu: “Tuyên bố một người là đã chết”.

Người bị yêu cầu là ông Nguyễn Văn A có nơi cư trú cuối cùng tại: Tổ 9, phường L, thị xã Bảo Lộc (Nay là số nhà 637/42 đường N, Tổ 9, phường L, thành phố Bảo Lộc), tỉnh Lâm Đồng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Về pháp luật nội dung: Bà Nguyễn Thị B yêu cầu ông Nguyễn Văn A là đã chết có nội dung và hình thức phù hợp với Điều 71 và Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015 nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết việc dân sự.

Xét yêu cầu của người yêu cầu việc dân sự bà Nguyễn Thị B như sau:

Bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn A kết hôn vào ngày 01/11/1983 có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Bảo Lộc (Nay là phường L, thành phố Bảo Lộc), tỉnh Lâm Đồng. Bà B và ông A về chung sống với nhau ở địa chỉ số nhà 637/42 đường N, Tổ 9, phường L, thành phố Bảo Lộc từ năm 1983 đến năm 2005. Quá trình chung sống, ông Anh và bà B sinh được 03 con chung gồm: Chị Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1985; chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1986 và anh Nguyễn Khánh H, sinh năm 1990.

Do mâu thuẫn vợ chồng nên ông A thường xuyên bỏ nhà đi một vài tháng. Từ năm 2005 cho đến nay, ông A đã bỏ gia đình, bỏ địa phương đi biệt tích không để lại tin tức, địa chỉ.

Lý do bà Nguyễn Thị B yêu cầu Tòa án tuyên bố ông A là đã chết với mục đích để hoàn tất thủ tục thừa kế về tài sản theo qui định của pháp luật và tạo sự ổn định cuộc sống cho gia đình.

Bà B đã làm đầy đủ thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết theo qui định tại Điều 384, 385 và Điều 392 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bằng các hình thức tìm kiếm khác nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông A là còn sống.

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và những người làm chứng đều xác nhận: Kể từ khi đăng trên báo hàng ngày của trung ương vào các ngày 27, 28 và ngày 29/9/2017; ngày 02, 03 và ngày 04/02/2018; phát sóng trên Đài phát thanh của trung ương vào các ngày 28, 29 và ngày 30/9/2017; ngày 02, 03 và ngày 04/02/2018; Cổng thông tin điện tử của Tòa án và UBND tỉnh Lâm Đồng cho đến nay thì vẫn không có tin tức xác thực về việc ông A là còn sống. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị B.

Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp là có căn cứ nên chấp nhận.

Về lệ phí: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Nguyễn Thị B là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Áp dụng Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị B. Tuyên bố ông Nguyễn Văn A là đã chết kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật.

2. Hậu quả pháp lý:

2.1. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

2.2. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Về lệ phí: Miễn toàn bộ lệ phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị B theo qui định của pháp luật.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định để yêu cầu Tòa án trên một cấp trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Trường hợp vắng mặt thì thời hạn tính từ ngày nhận được hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Cỡ chữ