- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Bà Đỗ Thị Xếp yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1, khoản 2 §iÒu 71, Điều 72 của Bộ luật dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2018/QĐDS-ST Ngày: 29/3/2018 V/v: Tuyên bố một người là đã chết |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Mậu Trường - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Hải Yến - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Đ
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên họp: Bà Đỗ Lê Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 109/2017/TLST-ST ngày 18 tháng 10 năm 2017 về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp số: 04/2018/QĐPH-ST ngày 19 tháng 3 năm 2018
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Đỗ Thị X, sinh năm 1948; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Tập thể X, xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội
2. Người liên quan: Anh Tống Công M, sinh năm: 1973; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Tập thể X, xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Tống Ngọc C, sinh năm 1951; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Tập thể X, xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội
3.2. Chị: Tống Thị Hồng C1, sinh năm 1976; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Xóm H, xã C, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
3.3. Anh Tống T, sinh năm 1984; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Tập thể X, xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội
Có mặt: Bà X, Ông C.
Vắng mặt: Anh T, Chị C1 (đều có đơn xin giải quyết vắng mặt).
4. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Tại đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết ghi ngày 04/10/2017 và các lời khai tiếp theo bà Đỗ Thị X trình bày:
Bà và ông Tống Ngọc C kết hôn năm 1972. Ông bà có 03 người con chung lần lượt là: Tống Công M, sinh năm 1973; Tống Thị Hồng C1, sinh năm 1976 và Tống T, sinh năm 1984. Gia đình bà cùng chung sống tại Tập thể X thuộc xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Anh M sinh sống từ nhỏ với gia đình tại địa chỉ trên. Sau khi học xong chương trình phổ thông, anh M không học thêm chương trình gì khác và giao du với các bạn xấu, sinh hoạt thất thường có lúc bỏ nhà đi nhiều ngày không về nhà. Thậm chí bà X còn nghe dư luận phản ánh là anh M nghiện ma tuý. Đến tháng 5 năm 1994, anh M tự ý bỏ nhà đi mà không nói cho ai biết là đi đâu, làm gì. Từ khi anh M bỏ đi, bà X và gia đình không hề nhận được tin tức gì của anh M mặc dù gia đình bà đã đi tìm nhiều nơi, hỏi thăm những người bạn cùng những mối quan hệ khác của anh M. Tháng 9 năm 2013, bà X có nhờ con gái bà đi đăng báo và đăng tin trên truyền hình để tìm kiếm anh M nhưng không có tin tức gì, anh M cũng không liên lạc, gọi điện, báo tin hay viết thư về cho bà và gia đình.
Gia đình bà X đang quản lý, sử dụng thửa đất số 47, tờ bản đồ số 3 ở thôn L, xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ gia đình bà Đỗ Thị X, trong đó anh M là một trong những người sử dụng đất.
Do không nhận có tin tức của anh M và cần giao dịch dân sự liên quan đến đất ở trên nên bà X đã yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với anh M. Ngày 20/01/2015, Toà án nhân dân huyện huyện Đ đã ra quyết định giải quyết việc dân sự số: 01/2015/QĐ-GQVDS chấp nhận yêu cầu của bà X, tuyên bố mất tích đối với anh Tống Công M.
Sau khi có Quyết định giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích đối với anh Tống Công M cho đến nay anh M vẫn không có tin tức.
Nay để gia đình có quyết định của Tòa án làm thủ tục giao dịch về đất ở của gia đình liên quan đến anh M là thành viên của hộ gia đình. Do vậy, bà X yêu cầu Toà án nhân dân huyện Đ tuyên bố anh M là đã chết vì thực tế tính đến nay anh Minh đã bỏ đi được gần 24 năm mà vẫn không có tin tức gì và đến nay cũng không có tin tức xác thực là còn sống.
Tại phiên họp hôm nay người yêu cầu là bà Đỗ Thị X vẫn giữ nguyên yêu cầu Toà án tuyên bố người là đã chết đối với anh Tống Công M.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Tống Ngọc C, anh Tống T, chị Tống Thị Hồng C1 đều nhất trí với ý kiến trình bày và yêu cầu của bà X.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ phát biểu ý kiến:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng các quy định pháp luật về thủ tục giải quyết việc dân sự theo quy định từ Điều 361 đến Điều 369 Bộ luật tố tụng dân sự cũng như thực hiện thu thập chứng cứ đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Sau khi đánh giá, phân tích nội dung việc dân sự, đại diện Viện kiểm sát đã đi đến kết luận: Anh Tống Công M đã biệt tích gần 24 năm.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của đương sự: Tuyên bố anh Tống Công M là đã chết, xác định thời điểm anh M chết là ngày 21/01/2018.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đ nhận định: Xét yêu cầu của bà X về việc tuyên bố anh Tống Công M là đã chết: Đánh giá chứng cứ là các tài liệu bà X giao nộp cho Toà án là: “Đơn xin xác nhận công dân đi khỏi nơi cư trú” ngày 04/10/2017 có xác nậhn của Uỷ ban nhân dân xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội là nơi anh M cư trú và cư trú cuối cùng (bút lục 13). “Giấy khai kết hôn” giữa ông Tống Ngọc C với bà Đỗ Thị X (bút lục 30); Bản sao sổ hộ khẩu gia đình bà Đỗ Thị X (bút lục 06 - 10); Giấy chứng minh nhân dân của bà Đỗ Thị X (bút lục 11) có đủ cơ sở để xác định anh Tống Công M, sinh ngày 05/10/1973; Nguyên quán: xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Tập thể X, xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội có quan hệ là con chung của bà Đỗ Thị Xếp với ông Tống Ngọc C đã bỏ đi biệt tích từ tháng 5/1994.
Thời gian trước đó, ngày 20/01/2015 tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2015/QĐ - GQVDS của Toà án nhân dân huyện Đ đã quyết định: Chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị X về việc tuyên bố một người mất tích đối với anh Tống Công M.
Do không có tin tức của anh M nên bà X tiếp tục yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết với anh M.
Xét thấy, anh M là người đồng sử dụng đất ở đối với thửa đất số 47, tờ bản đồ số 3 ở thôn L, xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ gia đình bà Đỗ Thị X theo số Y 636793 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 20/3/2004; vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1345 QSDĐ/ML. Mục đích đối với yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với anh M của bà X cũng như những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thành viên của hộ gia đình bà là cần thiết.
Sau khi Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý yêu cầu của bà X đã có Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với anh Tống Công M theo Quyết định số 22/2017/QĐ - VDS ngày 06/11/2017 và tiến hành đăng phát theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, từ ngày đăng phát thông tin tìm kiếm anh M trên Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 15,16,17 tháng 11 năm 2017 và báo Pháp Luật vào các ngày 24, 25, 26 tháng 11 năm 2017 cho đến nay anh M vẫn không có tin tức gì. Hiện nay cũng không có thông tin gì xác thực về việc anh M còn sống hay đã chết.
Như vậy, thời gian kể từ khi anh M bỏ đi biệt tích tính từ tháng 5 năm 1994 cho đến nay đã được gần 24 năm liền và không có tin tức xác thực là còn sống. Tại Điều 71 Bộ luật dân sự có quy định:
1. “ Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:
a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
2. Căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố mất tích.”
Qua đánh giá, phân tích trên, xét thấy có đủ điều kiện để tuyên bố anh Tống Công M là đã chết nên yêu cầu của bà X được Tòa án chấp nhận theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự.
Xác định ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực là ngày 20/01/2015 theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2015/QĐ - GQVDS ngày 20/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đ. Do đó, thời điểm xác định ngày chết của anh M được xác định là 21/01/2018 theo quy định tại khoản 2 Điều 71 Bộ luật dân sự.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ có căn cứ và phù hợp với nhận định của Toà án.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
Điểm a khoản 1, khoản 2 §iÒu 71, Điều 72 của Bộ luật dân sự.
- Khoản 4 Điều 27, khoản 1 Điều 149, 361, 370, 371, 391, 392 và 393 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà
án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị X về việc tuyên bố anh Tống Công M là đã chết.
2. Tuyên bố anh Tống Công M, sinh ngày 05/10/1973; Nguyên quán: xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Tập thể X, xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội đã chết ngày 21/01/2018.
3. Về quan hệ nhân thân; Quan hệ tài sản của anh Tống Công M được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của anh M được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
4. Về lệ phí việc dân sự: 300.000 đồng bà X phải chịu, nhưng được miễn toàn bộ do bà là người cao tuổi. Trả lại bà X số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí việc dân sự đã nộp tại Biên lai thu tiền số AB/2015/0000857 ngày 18/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.
5. Bà X, ông C có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định. Anh T, chị C1 có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày được tống đạt quyết định. Anh M có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết hợp lệ.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Đương sự. - Niêm yết. - VKSND huyện Đ - Lưu hồ sơ vụ án. | Nguyễn Mậu Trường |