vanban.org

Quyết định 05/2018/QDDS-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1-Căn cứ khoản 10 Điều 29; Điểm b khoản 2 Điều 35; Điểm t khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 67; Điều 149; Điều 370; Điều 371; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 92; Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016…

2-Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Vũ Văn K: Xác định ông Cấn Văn Ch, sinh năm 1945 (đã chết năm 1989). ĐKHKTT và nơi ở trước khi chết: Thôn Cấn T, xã Cấn H, huyện Q, Thành phố Hà Nội là cha đẻ của anh Vũ Văn K, sinh ngày 15/4/1987; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Cấn T, xã Cấn H, huyện Q, Th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Văn Kiên- Cấn Văn Chưng"
  • Tòa quyết gì? 1-Căn cứ khoản 10 Điều 29; Điểm b khoản 2 Điều 35; Điểm t khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 67; Điều 149; Điều 370; Điều 371; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 92; Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016…
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05 /2018/QĐDS-ST
Ngày: 07 - 9 - 2018
“V/v Yêu cầu xác định cha cho con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ toạ phiên họp: Ông Kiều Văn Thành – Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Huyền Lê – Thư ký Toà án nhân dân huyện Q, Thành phố Hà Nội;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Q, Thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai vụ việc Hôn nhân gia đình thụ lý số: 139/2018/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2018 về yêu cầu xác định cha cho con theo Quyết định mở phiên họp số: 05/2018/QĐPH-HNGĐ ngày 27/8/2018.

Người yêu cầu: Anh Vũ Văn K, sinh ngày 15/4/ 1987.

ĐKHKTT và nơi ở: Thôn Cấn T, xã C, huyện Q, Thành phố Hà Nội - Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1946 (vợ ông Ch)

2-Anh Cấn Văn T, sinh năm 1973 (con đẻ ông Ch)

3-Chị Cấn Thị Ng, sinh năm 1971 (con đẻ ông Ch);

4-Chị Cấn Thị S, sinh năm 1974 (con đẻ ông Ch)

ĐKHKTT và nơi ở: Thôn Cấn T, xã Cấn H, huyện Q, Thành phố Hà Nội

5-Anh Cấn Văn S, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Áp Trí Đ, xã Bình Đ, thị xã Gò C, Tỉnh Tiền Giang.

Anh S ủy quyền cho anh T theo giấy ủy quyền ngày 07/8/2018;

Bà L, chị Ng, chị S, anh S vắng mặt có Ủy quyền cho anh T theo văn bản ủy quyền ngày 13/8/2018. Anh S ủy quyền cho anh T theo giấy ủy quyền ngày 07/8/2018. Anh T có mặt.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Anh Vũ Văn K yêu cầu Tòa án công nhận ông Cấn Văn Ch ,sinh năm 1945 (đã chết năm 1989). ĐKHKTT và nơi ở trước khi chết: Thôn Cấn T, xã Cấn H, huyện Q, Thành phố Hà Nội là cha đẻ của anh Vũ Văn K.

Anh K trình bày: Anh K là con đẻ của ông Cấn Văn Ch, sinh năm 1945 và bà Vũ Thị H sinh năm 1948. Năm 1986 ông Ch, bà H quen nhau khi đó ông Ch đã có gia đình riêng, có vợ là bà Nguyễn Thị L và các con là anh Cấn Văn T, chị Cấn Thị Ng, Cấn Thị S và Cấn Văn S.

Năm 1987, khi sinh anh K được khai sinh theo họ của mẹ là họ Vũ.

Năm 1989, ông Ch chết nên anh K chưa làm thủ tục nhận cha theo quy định. Anh K và bà H đi lại, giữ quan hệ với gia đình bà L từ đó cho đến nay.

Nay anh K đã trưởng thành, mong muốn được nhận cha và mong muốn theo họ của bố nên anh K làm đơn yêu cầu Tòa án xác định ông Cấn Văn Ch là cha đẻ anh Vũ Văn K. Anh K có yêu cầu này chỉ nhằm mang đúng dùng họ của người cha đã sinh ra minh mà không nhằm mục đích để hưởng di sản thừa kế của ông Ch để lại.

Ông Ch chết từ năm 1989. Do đó anh K đã tự nguyện làm xét nghiệm huyết thống với anh Cấn Vắn T là con đẻ của ông Cấn Văn Ch và bà Nguyễn Thị L. Tại kết quả giám định ADN số: 05/18/KQ-DNA ngày 24/8/2018 của Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền kết luận: Vũ Văn K có quan hệ huyết thống theo dòng cha với Cấn Văn T.

- Người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Cấn Văn Ch gồm: Bà Nguyễn Thị L là vợ ông Ch; anh Cấn Văn T, chị Cấn Thị Ng, chị Cấn Thị S và anh Cấn Văn S là con đẻ của ông Ch và bà L đều có ý kiến đề nghị Tòa án xác định ông Cấn Văn Ch là cha đẻ của anh Vũ Văn K.

Tại phiên họp Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai trình bày: Về tố tụng Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai thu lý đúng thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, thời hạn mở phiên họp. Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, thư ký và các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai của các đương sự. Xét yêu cầu của anh Vũ Văn K là có cơ sở. Đề nghị Tòa án căn cứ các Điều 92; Điều 101 và Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 công nhận ông Cấn Văn Ch, sinh năm 1945 (đã chết năm 1989). ĐKHKTT và nơi ở trước khi chết: Thôn Cấn T, xã Cấn H, huyện Q, Thành phố Hà Nội là cha đẻ của anh Vũ Văn K; anh K phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai nhận định:

- Người được yêu cầu là ông Cấn Văn Ch, sinh năm 1945 (đã chết năm 1989). Do đó căn cứ Điều 92, khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Anh Vũ Văn K là người đã thành niên có năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xác định cha cho mình theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Người yêu cầu là anh Vũ Văn K đăng ký hộ khẩu tại xã Cấn H, huyện Q, Thành phố Hà Nội do vậy Tòa án nhân dân huyện Q có thẩm quyền giải quyết vụ việc theo quy định tại điểm t, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án nhân dân huyện Q thụ lý giải quyết vụ việc là đúng quy định của pháp luật.

- Do ông Cấn Văn Ch đã chết, nên không có mẫu để giám định trực tiếp quan hệ huyết thống giữa ông C và anh K. Anh K và anh Cấn Văn T ( con đẻ ông Ch) đã tự nguyện đi giám định ADN. Tại kết quả giám định ADN số: 05/18/KQ-DNA ngày 24/8/2018 của Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền kết luận: Vũ Văn K có quan hệ huyết thống theo dòng cha với Cấn Văn T.

- Những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Ch gồm vợ và các con ông Ch đều thừa nhận anh Vũ Văn K là con đẻ của ông Ch và đề nghị Tòa án xác định ông Cấn Văn Ch là cha đẻ của anh Vũ Văn K.

Căn cứ kết luận giám định ADN số: 05/18/KQ-DNA ngày 24/8/2018 của Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam kết luận: Vũ Văn K có quan hệ huyết thống theo dòng cha với Cấn Văn T và phù hợp với lời trình bày của bà Nguyễn Thị L và các con ông Ch đều thừa nhận anh K là con ông Ch.

Do đó có cơ sở ghi nhận anh Vũ Văn K là con đẻ của ông Cấn Văn Ch.

QUYẾT ĐỊNH:

1-Căn cứ khoản 10 Điều 29; Điểm b khoản 2 Điều 35; Điểm t khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 67; Điều 149; Điều 370; Điều 371; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 92; Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

2-Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Vũ Văn K: Xác định ông Cấn Văn Ch, sinh năm 1945 (đã chết năm 1989). ĐKHKTT và nơi ở trước khi chết: Thôn Cấn T, xã Cấn H, huyện Q, Thành phố Hà Nội là cha đẻ của anh Vũ Văn K, sinh ngày 15/4/1987; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Cấn T, xã Cấn H, huyện Q, Thành phố Hà Nội.

Anh K có quyền đến cơ quan cơ có thẩm quyền về hộ tịch để kê khai làm thủ tục thay đổi họ và ghi họ tên cha trong giấy khai sinh và các giấy tờ khác có liên quan theo quy định của pháp luật.

3- Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Anh Vũ Văn K phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) Được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0010510 ngày 01/8/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quốc Oai

4-Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.

TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Cỡ chữ