- Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự: “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” của ông Từ Khai Khâm T.
- Căn cứ chính? Điều 381 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2018/QĐDS-ST Ngày: 18/10/2018 V/v: “ Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Bà Đặng Thị Thu Trang - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Ông Đắc Quốc Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Bích Dung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 186/2018/TLST-VDS, ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuy phong, về yêu cầu: “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp số: 05/2018/QĐST-VDS, ngày 08 tháng 10 năm 2018.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Từ Khai Khâm T, sinh năm 1989
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: số 125 đường Thống Nhất, Khu phố N, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1991
Nơi cư trú cuối cùng: tổ dân phố 28, khu phố M, thị trần P, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Ông Từ Khai Khâm T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thị Minh H.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ Việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T nhận định.
Về nội dung yêu cầu: Ông Từ Khai Khâm T và bà Nguyễn Thị Minh H tự nguyên sống chung với nhau năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 144; quyển số 01/2011 ngày 02/6/2011.
Sau khi lấy nhau, vợ chồng về nhà cha mẹ ruột ông tại Khu phố N, thị trấn P sinh sống, cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau khi sanh cháu Viên được khoảng bốn tháng tuổi thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống; thường xuyên xúc phạm danh dự của nhau nên bà H bỏ nhà đi biệt tích từ cuối năm 2011 đến nay không thấy trở về nhà. Sau đó ông cũng cố gắng tìm đủ mọi cách liên lạc qua bạn bè, người thân của bà H nhưng đến nay cũng không biết bà H đang ở đâu, làm gì.
Trong thời kỳ hôn nhân ông và bà Nguyễn Thị Minh H có 01 con chung tên Từ Nguyễn Tố V, sinh ngày 07/4/2011 (giới tính: Nữ); hiện nay ông đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu V.
Tại phiên họp hôm nay, ông T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T ra thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thị Minh H.
Xét thấy yêu cầu của ông Từ Khai Khâm T là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ bà Nguyễn Thị Minh H đã bỏ đi biệt tích từ năm 2011 đến nay không trở về địa phương và cũng không liên lạc gì với gia đình.
Về lệ phí: ông Từ Khai Khâm T phải nộp lệ phí theo luật định.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về giải quyết việc dân sự:
Qua giải quyết việc dân sự từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng: Thẩm phán đã chấp hành đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự như sau: xác định thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án, xác định quan hệ pháp luật đây là việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành lập hồ sơ việc dân sự, thông báo thụ lý việc dân sự cho các đương sự biết, tiến hành thu thập chứng cứ. Cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng; gửi các văn bản tố tụng, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, thủ tục tiến hành giải quyết việc dân sự đúng theo quy định tại Điều 369 Bộ luật tố tụng dân sự và đúng thời hạn quy định.
Người tham gia tố tụng: từ khi Tòa án thụ lý đến phiên họp hôm nay, người yêu cầu đã thực hiện theo quy định tại Điều 362, Điều 381 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Tòa án nhân dân huyện T căn cứ theo Điều 369, Điều 370, khoản 1 Điều 381, Điều 383, Điều 384 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 64 Bộ luật dân sự năm 2015 ra quyết định giải quyết việc dân sự theo hướng chấp nhận đơn yêu cầu của ông Từ Khai Khâm T và ra Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú với bà Nguyễn Thị Minh H.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 370, 371, 372, Điều 381, Điều 383 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 64 Bộ luật dân sự năm 2015.
Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự: “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” của ông Từ Khai Khâm T.
Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: ông Từ Khai Khâm T phải nộp 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm. Ông T đã nộp 300.000 đồng tạm ứng lệ phí tại biên lai thu tiền số 0019579 ngày 19/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, ông T đã nộp đủ lệ phí.
Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh; - VKSND (Tỉnh + huyện); - Chi cục THA huyện; - Đương sự; - Lưu HS. | (Đã ký) Đặng Thị Thu Trang |