- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu Đ"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1987; Địa chỉ: Tổ dân phố 4 Đ, phường T, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/QĐ - TA | Phúc Yên, ngày 20 tháng 01 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Lưu Thị Thúy.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Phương Nhật Mai.
Ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 07/QĐ - TA ngày 14 tháng 01 năm.2025 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Hữu Đ, Giới tính: Nam; Sinh năm 1987.
Địa chỉ: Tổ dân phố 4 Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc;
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông Nguyễn Hữu L (đã chết) và bà Nguyễn Thị L.
Có vợ và 02 con.
Tiền án: Không; Tiền sự: 01
Hiện đang lưu trú tại: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc, từ ngày 03/01/2025 cho đến nay; Địa chỉ: Thôn G, xã K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Đăng Cư- Phó trưởng phòng, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên họp: Bà Đinh Thị Thu Huyền- Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Hữu Đ là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2014 đến nay, có nơi cư trú ổn định tại Tổ dân phố 4 Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguyễn Hữu Đ là đối tượng đang chấp hành quản lý sau cai theo Quyết định số: 39 ngày 28/4/2023 của Chủ tịch UBND phường T. Nhưng Nguyễn Hữu Đ vẫn chưa từ bỏ Đ ma túy, tại bản tường trình ngày 03/01/2025, Nguyễn Hữu Đ xác nhận 21 giờ ngày 30/12/2024, Đ vẫn sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà riêng; Công an phường T đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hữu Đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 03/01/2025 của Trạm y tế xã phường T, xác nhận Nguyễn Hữu Đ có sử dụng ma túynghiện ma túy đá.
Ngày 03/01/2025, Công an phường T đã làm việc và thông báo tình trạng nghiện ma túy cho Nguyễn Hữu Đ và yêu cầu được đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại UBND phường T theo khoản 1 Điều 28 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP. Tuy nhiên Nguyễn Hữu Đ vẫn không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Vì vậy, Công an phường T đã lập hồ sơ đề nghị đưa Đ đi cai nghiện bắt buộc. Ngày 02/01/2025, Chủ tịch UBND phường T đã ra Quyết định số: 02/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy, thời hạn quản lý kể từ ngày 02 tháng 01 năm 2025 cho đến khi người có thẩm quyền đưa Đ đi áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định của Tòa án. Ngày 03/01/2025, Nguyễn Hữu Đ đã được đưa vào lưu trú tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc;
Với hành vi nêu trên, đại diện phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên, đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu Đ. Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị vẫn giữ nguyên ý kiến và đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên phát biểu ý kiến tại phiên họp khẳng định việc Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu Đ đã tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục và đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật phòng chống ma túy, Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 và Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân. Viện kiểm sát đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu Đ với thời hạn từ 18 (Hai mươi) đến 22 (Hai mươi hai) tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, của Kiểm sát viên, của người bị đề nghị thấy rằng:
Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6, Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 Đ sửa đổi bổ sung năm 2020; khoản 1, khoản 2 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021 và hướng dẫn tại Nghị định số: 116/2021/NĐ- CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.
Đối với Nguyễn Hữu Đ là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2014, nhưng không có ý thức cai nghiện để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, mà vẫn sử dụng trái phép chất ma túy. Mặc dù đã được Công an giải thích về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, nhưng Đ không đăng ký. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đ đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021.
Với hành vi vi phạm nêu trên cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu Đ, như đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố Phúc Yên là cần thiết, có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Đ luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên Đ có nhân thân xấu hiện còn 01 tiền sự liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, cần xem xét thời hạn đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Đ từ 20 (Hai mươi) đến 22 (Hai mươi hai) tháng như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy năm 2021; khoản 2 Điều 9, khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 28 Nghị định: 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy và Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 có hiệu lực từ ngày 01/02/2023 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1987; Địa chỉ: Tổ dân phố 4 Đ, phường T, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 03 tháng 01 năm 2025.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên có quyền kháng nghị; Phòng Lao động- Thương binh và xã hội thành phố Phúc Yên có quyền kiến nghị quyết định này; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính có mặt có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Phúc Yên phối hợp với Công an thành phố Phúc có trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
| Nơi nhận: - VKSND T.P Phúc Yên; - Trưởng Công an thành phố Phúc Yên; - Trưởng Phòng LĐ - TB và XH thành phố Phúc Yên; - Cơ sở cai nghiện tỉnh Vĩnh Phúc; - UBND phường T; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN LƯU Đã ký LƯU THỊ THÚY |