vanban.org

Quyết định 04/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Địa điểm chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B số 2, địa chỉ: thôn Khánh Ninh, xã Ngọc Thiện, tỉnh B. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vi Văn N - đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/QĐ-TABắc Ninh, ngày 22 tháng 9 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Mai Hương

2. Thư ký phiên họp: Bà Vi Thị Lan Phương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh.

Ngày 22 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 05/QĐ-TA ngày 17 tháng 9 năm 2025, đối với:

Họ và tên: Vi Văn N; Giới tính: Nam; Sinh ngày 08 tháng 8 năm 1988; CCCD số: 024088009370; Ngày cấp: 17/12/2021; Nơi cấp: Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Không; Nơi thường trú: Thôn T, xã T1, tỉnh B; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Vi Văn Đạo (đã chết) và bà: Vi Thị Xa (đã chết).

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Đức Ngọc V - Cán bộ Công an xã T1, tỉnh B là người đại diện theo uỷ quyền của Đại uý Nguyễn Văn Tập - Trưởng Công an xã T1, tỉnh B.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên

NHẬN THẤY:

Vi Văn N sử dụng ma túy từ năm 2022. Ngày 01/8/2025, Công an xã T1 xét nghiệm, kết quả dương tính với Heroin. Ngày 04/8/2025, Trạm y tế xã T1 xác định Nghĩa nghiện Heroin. Ngày 04/8/2025, UBND xã T1 thông báo yêu cầu Nghĩa trong 05 ngày làm việc phải đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc cai nghiện bằng thuốc thay thế. Ngày 05/8/2025, Nghĩa nhận thông báo nhưng hết thời hạn trên không đăng ký. Công an xã T1 lập biên bản vi phạm và tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 03/9/2025, Nghĩa nhận thông báo lập hồ sơ. Theo quy định, trong 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận thông báo, người bị đề nghị có quyền đọc, ghi chép, sao chép tài liệu trong hồ sơ. Đến hết ngày 08/9/2025 thời hạn này kết thúc. Ngày 10/9/2025, Công an xã T1 ban hành Văn bản đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N với lý do hành vi của N đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy.

Ý kiến cơ quan đề nghị: Đề nghị Toà án áp dụng biện pháp đưa N vào Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh B số 2 thời hạn 12 tháng.

Ý kiến người bị đề nghị: N thừa nhận bản thân nghiện ma túy, đồng ý với kết quả xét nghiệm, xác nhận đã nhận thông báo nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện, lý do vì bản thân học thức thấp, thiếu hiểu biết, nay xin được xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện với thời hạn ngắn nhất.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp: Thẩm phán đã nhận thụ lý hồ sơ và quyết định mở phiên họp theo đúng quy định của pháp luật, thực hiện đúng thời hạn xem xét, quyết định, áp dụng biện pháp xử lý hành chính; người bị đề nghị chấp hành đúng quy định của pháp luật, đối với cơ quan đề nghị ban hành văn bản đề nghị chậm 01 ngày là vi phạm thủ tục nhưng không ảnh hưởng đến bản chất vụ việc. Đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với Vi Văn N thời hạn từ 12 đến 16 tháng.

Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ do Công an xã T1, tỉnh B lập, trên cơ sở xem xét toàn diện hồ sơ, ý kiến của người bị đề nghị, ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp.

XÉT THẤY:

Tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Xét thời hiệu áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N còn thời hiệu theo quy định; Đối tượng bị đề nghị, thẩm quyền lập hồ sơ, trình tự, thủ tục lập hồ sơ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cơ bản đã bảo đảm đầy đủ và phù hợp về hình thức, nội dung theo quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 40, 41, 42 và 43 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao. Theo khoản 2 Điều 103 Luật XLVPHC và Điều 30 Pháp lệnh thủ tục tại Tòa án Công an xã T1 ban hành văn bản đề nghị chậm 01 ngày nhưng đây là vi phạm về thủ tục, không ảnh hưởng đến tính hợp pháp, tính đầy đủ của hồ sơ và không làm thay đổi bản chất hành vi vi phạm, nên hồ sơ vẫn có căn cứ xem xét.

Xét đề nghị của Trưởng Công an xã T1: Vi Văn N là người nghiện ma túy, trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định. Sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện của cơ quan có thẩm quyền, trong thời hạn 05 ngày làm việc N không đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc cai nghiện bằng thuốc thay thế theo quy định. Hành vi này vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy và khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính, nên cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B số 2.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi vi phạm N đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Xét về nhân thân, Vi Văn N chưa có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu vi phạm, trình độ học vấn còn hạn chế. Do đó, Tòa án chấp nhận đề nghị của Trưởng Công an xã T1 và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian phù hợp, nhằm bảo đảm tính giáo dục, phòng ngừa và giúp Nghĩa có điều kiện cai nghiện, sớm tái hòa nhập cộng đồng.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy;

Căn cứ vào Điều 3, khoản 2 Điều 5, điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020, 2022, 2025;

Căn cứ vào các Điều 3, 23, 24, 25, 30, 31, 32 Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân, được sửa đổi bổ sung năm 2025;

Căn cứ vào các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma tuý.

Căn cứ vào Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Địa điểm chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B số 2, địa chỉ: thôn Khánh Ninh, xã Ngọc Thiện, tỉnh B.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh có quyền kháng nghị quyết định của Toà án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã T1, tỉnh B.

Cỡ chữ