vanban.org

Quyết định 04/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phí Văn C, sinh ngày 15/01/1989; Hộ khẩu thường trú: thôn V, xã T, tỉnh Phú Thọ vào Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Phú Thọ; địa chỉ thôn Gô, xã Tam Dương, tỉnh Phú Thọ.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Công an xã Thái Hòa có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân khu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phí Văn C, sinh ngày 15/01/1989; Hộ khẩu thường trú: thôn V, xã T, tỉnh Phú Thọ vào Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Phú Thọ; địa chỉ thôn Gô, xã Tam Dương, tỉnh Phú Thọ.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11- PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/QĐ-TAPhú Thọ, ngày 12 tháng 02 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH PHÚ THỌ

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Trần Thị Huệ.

2. Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Quốc Khánh.

Ngày 12 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 02/QĐ-TA ngày 30 tháng 01 năm 2026 đối với:

Họ và tên: Phí Văn C, sinh ngày 15/01/1989; căn cước công dân số 026089006485, ngày cấp 29/7/2025, nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH- Bộ Công an; Hộ khẩu thường trú: thôn V, xã T, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở: thôn V, xã T, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông: Phí Văn L (đã chết) và bà Kim Thị N (đã chết).

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn Nhàn - Trưởng Công an xã Thái Hòa, tỉnh Phú Thọ.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11: Bà Khổng Thị Phú Vân -Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Qua phản ánh của quần chúng nhân dân, Phí Văn C nghiện và thường xuyên sử dụng ma túy. Công an xã Thái Hòa, tỉnh Phú Thọ đã triệu tập C lên làm việc, tiến hành lấy lời khai và thu mẫu để xét nghiệm nước tiểu của C. Tại phiếu xét nghiệm và phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 15/10/2025 của Trạm Y tế xã Thái Hòa xác định C có nghiện ma túy loại Heroine. Công an xã Thái Hòa đã lập biên bản yêu cầu C trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày 05/01/2026 phải đến Ủy ban nhân dân xã Thái Hòa để làm thủ đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng C không thực hiện.

Tại bản tường trình, biên bản lấy lời khai C trình bày: Bản thân C nghiện ma túy từ năm 2008, hình thức sử dụng là hít, tần suất sử dụng một ngày/lần. C không đăng ký tham gia cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Ủy ban nhân dân xã hay bất cứ cơ sở điều trị cai nghiện nào khác.

Đại diện cơ quan đề nghị, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với C tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Phú Thọ, thời hạn từ 20 tháng đến 22 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, 96, 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao, xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với C tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Phú Thọ, thời hạn từ 20 tháng đến 22 tháng.

Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp, tuy nhiên trong biên bản ghi lời khai và bản tường trình đã thừa nhận hành vi sử dụng ma túy trái phép và xin chịu trách nhiệm trước pháp luật.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, thấy rằng:

Về tính hợp pháp của hồ sơ: Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại các Điều 40, 41, 42 và 43 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị áp dụng: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm lan tràn tệ nạn ma túy trong cộng đồng, gây tác động tiêu cực đến quá trình đấu tranh về tệ nạn ma túy trong xã hội. Mặc dù, nhận thức rõ tác hại của ma túy cũng như quy định của pháp luật nghiêm cấm sử dụng trái phép chất ma túy nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng bản thân nên C đã nghiện ma túy từ năm 2008 cho đến nay. Công an xã đã lập biên bản yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc phải đến Uỷ ban nhân dân xã để đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng C không thực hiện, do vậy C thuộc trường hợp “không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện” theo khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Do vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với C để có điều kiện cải tạo bản thân.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Các tài liệu trong hồ sơ thể hiện C là người nghiện chất ma túy và đã thành khẩn khai nhận về hành vi vi phạm của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính; C không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét thấy, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy có tác động rất xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sự phát triển trí tuệ, thể chất của con người, làm suy thoái đạo đức và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm. Do đó việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với C như đề nghị của đại diện Công an xã Thái Hòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 là cần thiết và hoàn toàn phù hợp pháp luật.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, 96, 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phí Văn C.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phí Văn C, sinh ngày 15/01/1989; Hộ khẩu thường trú: thôn V, xã T, tỉnh Phú Thọ vào Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Phú Thọ; địa chỉ thôn Gô, xã Tam Dương, tỉnh Phú Thọ.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Công an xã Thái Hòa có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 có quyền kháng nghị; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại Quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định: Công an xã Thái Hòa, tỉnh Phú Thọ đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ