vanban.org

Quyết định 04/QĐ-TA

TAND huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 25/09/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Đức A.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nông Đức A có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện E có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lí hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Đức A.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN E
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/QĐ -TANa Rì, ngày 25 tháng 9 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E, TỈNH BẮC KẠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Thành

2. Thư ký phiên họp: Ông Ma Văn Chung

Ngày 25 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Bắc Kạn mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 04/QĐ-TA ngày 21 tháng 9 năm 2020 đối với:

Nông Đức A, giới tính: Nam; sinh ngày 05/01/1991; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn S, xã D, huyện E, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Làm ruộng; tiền án, tiền sự: Không; con ông: Nông Đức B (Đã chết) và con bà Lương Thị C.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Lường Thị Huyền Trang - Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện E, tỉnh Bắc Kạn.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên họp: Ông Nông Thiêm Mẫn – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Nông Đức A là người nghiện ma tuý bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể từ năm 2018 đến nay. Ngày 26 tháng 6 năm 2020 Chủ tịch UBND xã D, huyện E đã ban hành quyết định số: 95/QĐ - UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 26/6/2020 đến ngày 26/9/2020 đối với Nông Đức A.

Ngày 24/8/2020, Nông Đức A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện E tiến hành lập biên bản và xét nghiệm chất ma túy, kết quả xét nghiệm là có sử dụng ma túy; đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện E đã tiến hành bàn giao người và biên bản vi phạm cho Công an xã D. Cùng ngày, Công an xã D đã phối hợp với Trạm y tế xã D tiến hành thử nước tiểu bằng que thử nhanh phát hiện ma túy đối với Nông Đức A, kết quả dương tính với chất ma túy.

Ngày 31/8/2020 Ủy ban nhân dân xã D đã ra quyết định số 128/QĐ-UBND chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nông Đức A.

Tại bản tường trình, ngày 24/8/2020 Nông Đức A khai nhận bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy (Hêrôin) bằng hình thức tiêm chích và nhận thấy hành vi của mình là trái pháp luật.

Ngày 01/9/2020 Công an xã D đã ban hành Thông báo số 14/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ ở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Đức A. Ngày 07/9/2020 Ủy ban nhân dân xã D đã ban hành văn bản đề nghị kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 66/CV-UBND và chuyển hồ sơ đến Phòng Tư pháp huyện E để kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ theo quy định.

Ngày 14/9/2020 Phòng Tư pháp huyện E đã ban hành Thông báo số 122/TB-PTP thông báo kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, kết luận: Hồ sơ chưa đảm bảo về tính pháp lý, cần chỉnh sửa một số nội dung.

Ngày 16/9/2020 Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện E đã ban hành công văn số 111/CV-LĐTBXH về việc đề nghị chỉnh sửa bổ sung hồ sơ xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 16/9/2020 Ủy ban nhân dân xã D đã ban hành công văn số 67/UBND về việc đính chính thông tin trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 17/9/2020 Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện E đã ban hành công văn số 112/CV-LĐTBXH về việc đề nghị Tòa án nhân dân huyện E xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cở sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Kạn đối với Nông Đức A.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện E, tỉnh Bắc Kạn đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Đức A với thời hạn là 24 (hai mươi tư) tháng.

- Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã đúng quy định của Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân và đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Đức A với thời hạn là từ 12 (mười hai) đến 24 (hai mươi tư) tháng.

- Người bị đề nghị trình bày: Xác định có sử dụng ma túy như hồ sơ thể hiện, biết hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là trái với quy định của pháp luật và không có ý kiến về việc Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện E đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Đức A.

XÉT THẤY:

Hồ sơ về việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở Cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Bắc Kạn đối với Nông Đức A được lập đầy đủ, đúng quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở Cai nghiện bắt buộc; Nghị định số 136//2016/NĐ - CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa và cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Xét về tính chất, mức độ hành vi vi phạm: Nông Đức A là người có đầy đủ năng lực hành vi nhận thức rõ về tác hại của ma túy; đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không tiến bộ, vẫn tiếp tục sử dụng ma túy; làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến sự quản lý chất biệt dược của Nhà nước. Do đó, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Nông Đức A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị đưa đi cai nghiện bắt buộc đã “tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi”, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính và không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Vì các lẽ trên.

Căn cứ vào các Điều 95, 96, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; căn cứ nghị định 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Nghị định số 136/2016/NĐ - CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ; căn cứ các Điều 3, Điều 22, Điều 23, Điều 29, Điều 30, Điều 31 của Pháp lệnh trình tự thủ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Đức A.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Nông Đức A có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện E có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện E có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Toà án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an huyện E, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện E và Nông Đức A có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ