vanban.org

Quyết định 04/QĐ-TA

TAND huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Tuyên án 16/03/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh G. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phò… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04 /QĐ-TAC, ngày 16 tháng 3 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH G

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nay Lu Vinh.

2. Thư ký phiên họp: Bà Cao Thị Hiền.

Ngày 16 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 05/QĐ-TA ngày 09 tháng 3 năm 2020, đối với:

Phạm Văn T

;Giới tính: Nam.

Sinh ngày 05 tháng 02 năm 1982.

CMND số:

;Ngày cấp:

; Nơi cấp:

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 9/12.

Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố 05, thị trấn C, huyện C, tỉnh G.

Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án: Không, tiền sự: 01.

Côn ông Phạm V H và bà Phạm Thị Dương.

Có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Văn Dự - Chuyên viên Phòng Lao động

- Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh G (theo văn số: 45/LĐTBXH ngày 03/3/2020).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Phạm Văn T là đối tượng nghiện ma túy, Trung bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy (Heroin) từ tháng 01 năm 2003, sử dụng trái phép ma túy đá từ tháng 01/2019, hình thức sử dụng là hút. Phạm Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Tổ dân phố 05, thị trấn C, huyện C, tỉnh G nhưng không thường xuyên sinh sống tại địa phương và không có nơi cư trú ổn định.

Qua trình báo của gia đình và công tác vận động của Công an thị trấn C thì Phạm Văn T đã thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình, lần gần nhất Trung sử dụng trái phép chất ma túy là ngày 08/02/2020 (theo lời Trung khai) tại Tổ dân phố 05, thị trấn C, huyện C, tỉnh G. Sau đó Công an thị trấn C đã lập biên bản vi phạm hành chính và đưa đối tượng Phạm Văn T đi xét nghiệm tình trạng nghiện ma túy tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh G, kết quả Phạm Văn T có nghiện ma túy thuộc nhóm MET-Methamphetamin (Ma túy đá).

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện C là ông Trần Văn Dự đề nghị Tòa án nhân dân huyện C xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Phạm Văn T với thời hạn 24 tháng.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện C xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Phạm Văn T với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại mục 2 khoản 2 Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đúng theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Phạm Văn T, sinh năm 1982 là người nghiện ma túy đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định theo quy định tại mục 3 khoản 1 Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Công an thị trấn C đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn C ra quyết định, giao đối tượng Phạm Văn T cho Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh G quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Phạm Văn T, được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Hồ sơ đã được Phòng Tư pháp huyện C kiểm tra và xác định hồ sơ bảo đảm tính pháp lý theo quy định tại Thông tư số 19//2015/TT-BTP ngày 28/12/2015 của Bộ Tư pháp.

Xét thấy hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Văn T là nguy hiểm, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Bản thân Trung có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép ma túy; không có nơi cư trú ổn định, địa phương không thể giám sát. Nguyện vọng của gia đình mong muốn Trung được cai nghiện một thời gian dài để từ bỏ ma túy. Vì vậy, cần thiết phải cách ly đối tượng Phạm Văn T một thời gian để cai nghiện, giáo dục và cải tạo bản thân là cần thiết.

Từ những phân tích trên, xét đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Phạm Văn T là có căn cứ và đúng pháp luật.

Căn cứ vào Điều 95, 96, 103, 104, 105, 107 và Điều 108 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ vào các Điều 3, 22, 23, 24, 30, 31 và Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ vào các Điều 4, 8 và Điều 13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ;

Căn cứ vào mục 3 khoản 1; mục 2 khoản 2 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh G.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện C có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án. Riêng với đối tượng Phạm Văn T có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày quyết định được tống đạt hợp lệ.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C phối hợp với Công an huyện C, tỉnh G.

Cỡ chữ