vanban.org

Quyết định 04/2026/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ChÊp nhËn yªu cÇu gi¶i quyÕt viÖc d©n sù cña ông Nguyễn Văn Đ.

[1] Tuyªn bè chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981, nơi cư trú: Tổ B, khu D, phường V, tỉnh Phú Thọ có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. [2] Ông Nguyễn Văn Đ là người giám hộ cho chị Nguyễn Thị H. Ông Nguyễn Văn Đ thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 57, 58, 59 của Bộ luật dân s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi"
  • Tòa quyết gì? ChÊp nhËn yªu cÇu gi¶i quyÕt viÖc d©n sù cña ông Nguyễn Văn Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 376 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - PHó THä

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2026/QĐST - VDSPhú Thọ, ngày 27 tháng 02 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

VÒ viÖc “Tuyªn bè mét ng êi có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi”

Tßa ¸n nh©n DÂN KHU VỰC 1- Phó Thä

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà TrÇn ThÞ Kim Liªn

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Thế Vinh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Phú Thọ tham gia phiên họp: Bµ Đỗ Hoàng Huyền My - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2026, tại Trô së T ¸n nh©n d©n khu vực 1- Phú Thọ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 05/ TLST- DS ngày 13 tháng 01 năm 2026 về việc: “Tuyªn bè mét ng êi có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2026/QĐST-VDS ngày 13 tháng 02 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1958;

Địa chỉ: Tổ B, khu D, phường V, tỉnh Phú Thọ.

Người bị yêu cầu: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981

Địa chỉ: Tổ B, khu D, phường V, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện hợp pháp của chị H: ông Nguyễn Văn Đ - SN 1958

Địa chỉ: Tổ B, khu D, phường V, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

-Bà Phùng Thị V, sinh năm 1959

Địa chỉ: Tổ B, khu D, phường V, tỉnh Phú Thọ.

-Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1983

Địa chỉ: Khu C, xã V, tỉnh Phú Thọ

-Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989

Địa chỉ: Tổ B, khu D, phường V, tỉnh Phú Thọ.

-Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1991

Địa chỉ: Phường T, tỉnh Phú Thọ

(Ông Đ, chị H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin vắng mặt tại phiên họp).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu ngày 26/12/2025 cũng như lời khai tại Tßa ¸n nh©n d©n khu vực 1 ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Chị Nguyễn Thị H, từ khi vợ chồng ông sinh ra, nuôi dưỡng, chăm sóc; đang đi học dở lớp 11/12, tháng 6/1998 có biểu hiện mất ngủ, nói nhiều, nói linh tinh vô cớ; gia đình đã cố gắng hết mọi khả năng, tìm đến các cơ sở Y tế trong tỉnh để điều trị; trong đó điều trị tại Bệnh viện T hai lần và Bệnh viện Tâm thần tỉnh P với chuẩn đoán Tâm thần phân liệt, cấp sổ điều trị ngoại trú, về nhà uống thuốc đều nhưng bệnh ổn định kém vẫn tái phát từng đợt, chị H đi lại nhiều, mặc trang phục lòe loẹt, thường xuyên bỏ nhà đi lang thang, ăn uống thất thường, đêm ngủ kém. Ngày 11/02/2011, Hội đồng giám định sức khỏe tâm thần – Trung tâm G, Sở Y đã thẩm định và kết luận chị H bị Tâm thần phân liệt.

Từ tháng 8/2013 đến nay, chị H được hưởng trợ cấp người khuyết tật thần kinh mức độ nặng tại địa phương.

Từ khi sinh ra đến nay chị H (con gái ông) chưa lấy chồng, không có con, ở cùng nhà và do vợ chồng ông chăm sóc, nuôi dưỡng. Từ khi bị bệnh đến nay chị H không còn khả năng lao động.

Gia đình vẫn tiếp tục đưa chị H đi điều trị nhiều nơi nhưng bệnh tình không thuyên giảm; hiện tại chị H vẫn được điều trị, uống thuốc hàng ngày theo pháp đồ của Bệnh viện tâm thần tỉnh P, tuy nhiên biểu hiện bệnh như thời kỳ đầu mắc phải, ăn uống thất thường, đêm ngủ kém, nói năng lảm nhảm, đi lại lang thang ngoài đường …chị H có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của bản thân do bệnh Tâm thần phân liệt.

Nay ông làm đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1 – Tỉnh Phú Thọ tuyên bố chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981 có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định ông – Nguyễn Văn Đ là người giám hộ cho chị Nguyễn Thị H theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên họp ông Nguyễn Văn Đ vì lý do sức khỏe không đủ để tham gia phiên họp nên xin vắng mặt. Ông vẫn giữ nguyên quan điểm như lời khai tại Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 phát biểu:

Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm mở phiên họp,Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết việc dân sự: Đề nghị chủ tọa phiên họp áp dụng khoản 1 Điều 23, Điều 47,49,53 khoản 4 Điều 54 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 376, Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ kho¶n 1 §iÒu 12, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326 của UVTV Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đ, tuyên bố chị H “có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi”. Chỉ định ông Nguyễn Văn Đ là người giám hộ cho chị Nguyễn Thị H. Ông Nguyễn Văn Đ có quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015.

Ông Nguyễn Văn Đ không ph¶i chÞu lÖ phÝ gi¶i quyÕt viÖc d©n sù s¬ thÈm vì ông là người cao tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 1 nhận định:

Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị H có hộ khẩu thường trú tại: Tổ B, khu D, phường V, tỉnh Phú Thọ nên đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đ thuộc thẩm quyền gi¶i quyÕt cña Tßa ¸n nh©n d©n khu vực 1- Phó Thä, theo quy ®Þnh t¹i kho¶n 1 §iÒu 27; §iÒu 35; ®iÓm a kho¶n 2 §iÒu 39 Bé luËt Tè tông d©n sù.

VÒ néi dung:

Theo lời khai của ông Nguyễn Văn Đ và các tài liệu khác có trong hồ sơ thì chị Nguyễn Thị H đang đi học dở lớp 11/12, tháng 6/1998 có biểu hiện mất ngủ, nói nhiều, nói linh tinh vô cớ; gia đình đã tìm đến các cơ sở Y tế trong tỉnh để điều trị; trong đó điều trị tại Bệnh viện T hai lần và Bệnh viện Tâm thần tỉnh P với chuẩn đoán Tâm thần phân liệt, cấp sổ điều trị ngoại trú, về nhà uống thuốc đều nhưng bệnh không thuyên giảm vẫn tái phát từng đợt, chị H đi lại nhiều, mặc trang phục lòe loẹt, thường xuyên bỏ nhà đi lang thang, ăn uống thất thường, đêm ngủ kém. Nay ông Đ có đơn đề nghị nhưng chị không tham gia tố tụng tại Toà án được. Tại kết luậnTrung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền núi Phía Bắc đã tiến hành giám định và kết luận giám định sức khoẻ tâm thần số 51/2011/SKTT ngày 11/02/2011, chị Nguyễn Thị H bị bệnh tâm thần phân liệt ( là bệnh tâm thần mãn tính, thuộc nhóm bệnh số 5 – Điều 4 chương II, Nghị định số 67/2007/NĐ – CP ngày 13/4/2007; thuộc nhóm bệnh số 17, Điều 1, Quyết định số 09/2008/QĐ – BYT ngày 20/2/2008 của Bộ trưởng Bộ Y1). Chị H vẫn điều trị nội trú tại Bệnh viên tâm thần Phú Thọ đến năm 2023 khi ra viện để điều trị ngoại trú bệnh viện tâm thần tỉnh Phú Thọ chuẩn đoán: chị H bị rối loạn cảm xúc pha trầm cảm, gia đình tiếp tục cho uống thuốc nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm, trưởng khu dân cư và các hộ sinh sống liền kề đều xác nhận: Gia đình ông Đ vẫn thường xuyên đưa chị H đi khám và điều trị nhưng chị H vẫn không khỏi bệnh và vẫn thường xuyên nói một mình, chửi bới vu vơ, mặc trang phục lòe loẹt, đeo ba lô trước ngực, thường xuyên bỏ nhà đi lang thang, không có khả năng lao động. Hiện tại chị Nguyễn Thị H có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.

Về việc chỉ định người giám hộ, xét thấy theo quy định tại Điều 53 và khoản 4 Điếu 54 của Bộ luật dân sự quy định thì ông Nguyễn Văn Đ là người giám hộ cho chị Nguyễn Thị H. Ông là người trực tiếp chăm sóc chị Nguyễn Thị H và có đủ các điều kiện là người giám hộ tại Điều 49 Bộ luật dân sự. Do đó chỉ định ông Đ là người giám hộ cho chị Nguyễn Thị H, quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn Đ thực hiện theo quy định tại Điều 57, 58, 59 của Bộ luật dân sự.

Yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đ về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị H có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi là có căn cứ theo Điều 23 của Bộ luật dân sự, nên Toà án cần chấp nhận.

Về lệ phí: ông Nguyễn Văn Đ không phải nộp lệ phí việc dân sự vì ông Đ là người cao tuổi.

Xét ý kiến, quan điểm về việc giải quyết vụ việc dân sự của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là hoàn toàn phù hợp pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vµo kho¶n 1 §iÒu 27, §iÒu 35, ®iÓm a kho¶n 2 §iÒu 39, c¸c §iÒu 149, 367, 369, 370, 371, 372, 376 và Điều 378 Bé luËt tè Tông d©n sù; §iÒu 23; 47, 48, 49, 53, khoản 4 Điều 54, Điều 57, 58, 59 Bé luËt D©n sù; điểm đ kho¶n 1 §iÒu 12, khoản 1 Điều 37 NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n.

ChÊp nhËn yªu cÇu gi¶i quyÕt viÖc d©n sù cña ông Nguyễn Văn Đ.

[1] Tuyªn bè chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981, nơi cư trú: Tổ B, khu D, phường V, tỉnh Phú Thọ có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.

[2] Ông Nguyễn Văn Đ là người giám hộ cho chị Nguyễn Thị H. Ông Nguyễn Văn Đ thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 57, 58, 59 của Bộ luật dân sự.

[3] Lệ phí s¬ thÈm gi¶i quyÕt viÖc d©n sù: ông Nguyễn Văn Đ là người cao tuổi nên không phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm.

[4] Các đương sự cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n10 ngµy kÓ tõ ngµy nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. ViÖn kiÓm s¸t cïng cÊp cã quyÒn kh¸ng nghÞ trong thêi h¹n 10 ngµy, ViÖn kiÓm s¸t cÊp trªn trùc tiÕp cã quyÒn kh¸ng nghÞ trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy Tßa ¸n ra quyÕt ®Þnh. N¬i nhËn:

Cỡ chữ