- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Người yêu cầu: Lê Quốc Phi"
- Tòa quyết gì? 1- Chấp nhận đơn yêu cầu: “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” của ông Lê Quốc Ph.
- Căn cứ chính? Luật Tố tụng Hành chính; Luật Tư pháp người; Luật phá sản
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2025/QĐST- VDS | Quảng Ninh, ngày 23 tháng 9 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- QUẢNG NINH
-Thành phần giải quyết việc gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Ngô Văn Thắng.
-Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Linh-Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2
- Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Quảng Ninh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Minh Cường - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại hội trường Toà án nhân dân khu vực 2- Quảng Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2025/TLST-VDS ngày 15/8/2025, về việc: “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” , theo quyết định mở phiên họp số: 04/2025/ QĐST-VDS ngày 12 tháng 9 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau:
1- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: ông Lê Quốc Ph, sinh năm 1962; nơi cư trú; khu C, phường Q, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
Đối với bà: Bùi Thị Tuyết M, sinh năm 1970; nơi cư trú; khu C, phường Q, tỉnh Quảng Ninh.
2- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị Bảo L, sinh năm 1989; nơi cư trú: tổ 9, khu 3A, phường V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Thái L1, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ 13, khu 3A, phường V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
-Anh Nguyễn Trí L2, sinh năm 1997; nơi cư trú: Tổ 13, khu 3A, phường V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 11/8/2025, bản tự khai, biên bản họp gia đình; báo cáo về tiểu sử bệnh của bà Bùi Thị Tuyết M, ông Lê Quốc Ph trình bày: Ông Lê Quốc Ph và bà Bùi Thị Tuyết M ký kết trên cơ sở tự nguyện, đang ký kết hôn tại UBND thị trấn Quảng Yên ngày 17/3/2010 (Trước đó, bà Mai kết hôn với ông Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1960 đã ly hôn năm 2001, có ba con Nguyễn Thị Bảo L, Nguyễn Thị Thái L1 và Nguyễn Trí L2 và được Tòa án nhân dân huyện Yên Hưng công nhận việc ly hôn)
Sau khi kết hôn, vợ chồng không có con chung. Bố mẹ đẻ của bà M (bố mẹ vợ) là cụ Bùi Ngọc L3 (đã chết năm 1996) và cụ Trần Thị L4 (đã chết năm 2014).
Năm 2021, bà Bùi Thị Tuyết M bị nhiễm vi rút Covid-19 phải uống thuốc điều trị dài hạn. Tuy nhiên, quá trình uống thuốc đã bị sốc phản vệ và phải điều trị tại Trung tâm y tế thị xã Quảng Yên với chuẩn đoán bị suy tim, rối loạn điện giải, rối loạn tâm thần gây di chứng phản vệ độ 4 ngừng tuần hoàn. Sau đó, trong quá trình sinh hoạt thì bà Bùi Thị Tuyết M lại bị cảm lạnh dẫn đến tai biến, bị liệt tứ chi không đi lại được và cho đến nay bà Bùi Thị Tuyết M không thể nói chuyện và không nhận ra ai, mọi sinh hoạt đều phụ thuộc vào người nhà.
Do bà Bùi Thị Tuyết M không thể nhận thức làm chủ hành vi nên mọi giao dịch liên quan đến bà Bùi Thị Tuyết M hiện nay đều không thực hiện được. Chính vì vậy, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho bà Bùi Thị Tuyết M trong việc tham gia các giao dịch dân sự, gia đình đã họp gia đình đồng ý để ông là chồng của bà M đại diện làm các thủ tục cần thiết để yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Bùi Thị Tuyết M mất năng lực hành vi dân sự.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (con riêng của bà M): các anh, chị Nguyễn Thị Bảo L, Nguyễn Thị Thái L1 và Nguyễn Trí L2 có quan điểm tương tự ông Ph.
Gia đình gồm ông Ph và ba con riêng của bà M gồm các anh, chị Nguyễn Thị Bảo L, Nguyễn Thị Thái L1 và Nguyễn Trí L2 họp cử ông Lê Quốc Ph giám hộ cho bà M.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp: từ khi thụ lý giải quyết việc đến trước thời điểm mở phiên họp, Thẩm phán, Thư ký cơ bản đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
2.Về việc giải quyết việc: căn cứ Điều 22, 51, 57, 58, 59 Bộ luật Dân sự , Điều 376, 378 Bộ luật Tố tụng Dân sự: Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Quốc Ph. Tuyên bố bà Bùi Thị Tuyết M mất năng lực hành vi dân sự và cử ông Lê Quốc Ph là người giám hộ cho bà Bùi Thị Tuyết M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Ninh tại phiên họp, Toà án nhân dân khu vực 2- Quảng Ninh nhận định:
Về tố tụng, quan hệ pháp luật: bà Bùi Thị Tuyết M; sinh năm 1970; nơi cư trú; khu Chùa Bằng, phường Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh nên yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của ông Lê Quốc Ph, sinh năm 1962; nơi cư trú; khu Chùa Bằng, phường Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh đối với bà Bùi Thị Tuyết M thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 2- Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 27, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải đối thoại tại Toà án.
Người yêu cầu và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp, căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà án giải quyết vắng mặt người yêu cầu và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung: Ông Lê Quốc Ph và bà Bùi Thị Tuyết M kết hôn ngày 17/3/2010, trên cơ sở tự nguyên, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Quảng Yên (Trước đó, bà M kết hôn với ông Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1960 đã ly hôn năm 2001, có ba con Nguyễn Thị Bảo L, Nguyễn Thị Thái L1 và Nguyễn Trí L2 và được Tòa án nhân dân huyện Yên Hưng công nhận việc ly hôn)
Sau khi kết hôn, vợ chồng không có con chung. Năm 2021, bà Bùi Thị Tuyết M bị nhiễm vi rút Covid-19 phải uống thuốc điều trị dài hạn. Tuy nhiên, quá trình uống thuốc đã bị sốc phản vệ và phải điều trị tại Trung tâm y tế thị xã Quảng Yên với chuẩn đoán bị suy tim, rối loạn điện giải, rối loạn tâm thần gây di chứng phản vệ độ 4 ngừng tuần hoàn. Sau đó, trong quá trình sinh hoạt thì bà Bùi Thị Tuyết M lại bị cảm lạnh dẫn đến tai biến, bị liệt tứ chi không đi lại được và cho đến nay bà M không thể nói chuyện và không nhận ra ai, mọi sinh hoạt đều phụ thuộc vào người nhà.
Do bà Bùi Thị Tuyết M không thể nhận thức làm chủ hành vi nên mọi giao dịch liên quan đến bà Bùi Thị Tuyết M hiện nay đều không thực hiện được. Ông Ph yêu cầu tuyên bố bà Bùi Thị Tuyết M mất năng lực hành vi dân sự.
Theo cung cấp của khu phố, hàng xóm, thì: trước đây bà Bùi Thị Tuyết M khoẻ mạnh, minh mẫn, luôn hoà đồng với hàng xóm. Từ khi bị Covid -19, sốc thuốc, suy tim, rối loạn tâm thần rồi bị liệt, không đi lại được, không nói chuyện được, không nhận thức được và hoàn toàn sống phụ thuộc vào người nhà. Hiện đang được nhận trợ cấp xã hội hàng tháng theo chế độ tại phường Quảng Yên.
Tại kết giám đinh pháp y tâm thần số: 75/KLGĐ ngày 11/9/2025 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Miền núi phía Bắc- Bộ Y tế, kết luận: Bùi Thị Tuyết M, sinh năm: 1970; nơi cư trú; khu C, phường Q, tỉnh Quảng Ninh bị bệnh các rối loạn tâm thần khác do tổn thương và rối loạn chức năng não và bệnh lý cơ thể - bệnh có mã F06 (Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi). Hiện tại: Bùi Thị Tuyết M mất năng lực hành vi dân sự.
Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Lê Quốc Ph: tuyên bố bà Bùi Thị Tuyết M mất năng lực hành vi dân sự.
Về người giám hộ: Bố mẹ đẻ của bà Mai là cụ Bùi Ngọc L3 (đã chết năm 1996) và cụ Trần Thị L4 (đã chết năm 2014). Trước đó, bà M kết hôn với ông Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1960 đã ly hôn năm 2001, ông Kh và bà M có ba con Nguyễn Thị Bảo L, Nguyễn Thị Thái L1 và Nguyễn Trí L2 và được Tòa án nhân dân huyện Yên Hưng công nhận việc ly hôn ngày 25/4/2001). Tại biên bản họp gia đình gồm ông Lê Quốc Ph, các anh, chị Nguyễn Thị Bảo L, Nguyễn Thị Thái L1 và Nguyễn Trí L2 (Biên bản họp có chứng thực của Văn phòng công chứng Quảng Yên) thống nhất cử ông Lê Quốc Ph làm người giám hộ của bà Bùi Thị Tuyết M.Việc các đương sự thống nhất cử ông Lê Quốc Ph làm người giám hộ của bà Bùi Thị Tuyết M là đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Ninh có căn cứ chấp nhận.
Lệ phí giải quyết việc sơ thẩm: ông Lê Quốc Ph, người cao tuổi có đơn miễn lệ phí Toà án, căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12, Điều 16 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: miễn lệ phí Toà án cho ông Lê Quốc Ph.
Quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 22, 51, 57, 58, 59 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 27, các Điều 35, 39, 369, 370, 371, 372, 376, 378 Bộ luật Tố tụng Dân sự; căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải đối thoại tại Toà án; căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12, Điều 16 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1- Chấp nhận đơn yêu cầu: “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” của ông Lê Quốc Ph.
Tuyên bố: bà Bùi Thị Tuyết M, sinh năm 1970; nơi cư trú; khu Chùa Bằng, phường Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, mất năng lực hành vi dân sự.
Cử ông Lê Quốc Ph là người giám hộ cho bà Bùi Thị Tuyết M. Ông Lê Quốc Ph thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với người giám hộ theo quy định của pháp luật cho đến khi có sự thay đổi khác
2 – Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: miễn lệ phí Toà án giải quyết việc cho ông Lê Quốc Ph.
3 – Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; -VKSND khu vực 2-Quảng Ninh; -Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP Ngô Văn Thắng |