vanban.org

Quyết định 04/2025/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/05/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Võ Quang G về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”.

Tuyên bố ông Võ Mạnh H1, sinh năm 1980; thường trú: số C, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Chỉ định ông Võ Quang G, sinh năm 1959; thường trú: 10/21, khu phố Đ, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: số C, khu phố B,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người hạn chế năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Võ Quang G về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2025/QĐST-VDS
Ngày: 28-5-2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: bà Nguyễn Thị Thụy.

Thư ký phiên họp: ông Trần Hồng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 196/2025/TLST-VDS ngày 21 tháng 4 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 39/2025/QĐST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: ông Võ Quang G, sinh năm 1959; thường trú: 10/21, khu phố Đ, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: số C, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: bà Trịnh Thị Thúy N, sinh năm 2001; địa chỉ: số A, đường E, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 12/02/2025); có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Lương Thị H, sinh năm 1954; thường trú: 10/21, khu phố Đ, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: số C, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, đơn thay đổi yêu cầu giải quyết việc dân sự và lời khai trong quá trình giải quyết người yêu cầu và đại diện hợp pháp của người yêu cầu trình bày:

Ông Võ Quang G là cha ruột và bà Lương Thị H là mẹ ruột của ông Võ Mạnh H1. Ông Võ Mạnh H1 không có vợ con.

Ông Võ Mạnh H1 khi sinh ra khỏe mạnh, phát triển bình thường, đến năm 2004 ông H1 bị tai nạn giao thông dẫn đến thần kinh bị ảnh hưởng. Gia đình đưa đi khám chữa bệnh nhiều nơi nhưng không thuyên giảm. Hiện tại, ông H1 không điều khiển được hành vi, thường xuyên chửi bới, hay đi khỏi nhà, đe dọa giết mọi người, mọi sinh hoạt đều phải có người hỗ trợ, chăm sóc. Từ năm 2017 cho đến nay ông H1 được Trạm y tế phường An Bình đưa vào đối tượng được cấp phát thuốc thần kinh tại Trạm y tế hàng tháng. Vì vậy, ông G yêu cầu tuyên bố ông Võ Mạnh H1 mất năng lực hành vi dân sự.

Quá trình giải quyết, ông gặp có đơn thay đổi yêu cầu, cụ thể ông yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Võ Mạnh H1 hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đề nghị chỉ định ông Võ Quang G làm người giám hộ cho ông Võ Mạnh H1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lương Thị H trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của ông Võ Quang G. Bà Lương Thị Hòa đồng Ý với yêu cầu tuyên bố ông Võ Mạnh H1 hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đề nghị chỉ định ông Võ Quang G làm người giám hộ cho ông Võ Mạnh H1.

Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 91/KL-VPYTW ngày 21/5/2025 của V tình trạng bệnh tật của ông Võ Mạnh H1 như sau:

- Tại thời điểm giám định đối tượng Võ Mạnh H1 bị bệnh Tâm thần phân liệt thể không biệt định giai đoạn bệnh thuyên giảm. Theo phân loại quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F20.3;

- Hiện tại đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: căn cứ vào tài liệu chứng cứ đương sự cung cấp và kết luận giám định pháp y tâm thần đối với ông Võ Mạnh H1, có đủ căn cứ để xác định ông Võ Mạnh H1 là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: ông Võ Quang G yêu cầu tuyên bố ông Võ Mạnh H1 bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi đây là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Ông Võ Mạnh H1 có địa chỉ thường trú tại số C, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố Tụng Dân sự.

Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về việc xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Võ Quang G xác định các em ruột của ông H1 gồm bà Võ Thị Kim L và ông Võ Quang M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, Tòa án xác định bà Võ Thị Kim L và ông Võ Quang M không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời quá trình giải quyết ông G thay đổi yêu cầu cụ thể xác định bà Võ Thị Kim L và ông Võ Quang M không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung:

Căn cứ vào lời khai của người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vào năm 2004 ông H1 bị tai nạn giao thông nên bị chấn thương vùng đầu, gia đình đã đưa ông H1 đi khám chữa bệnh nhiều nơi nhưng không thuyên giảm, ông H1 có những biểu hiện như chửi bới, hăm dọa giết người, hay bỏ nhà đi rồi lại về, mọi sinh hoạt đều phải có người hỗ trợ, chăm sóc, từ năm 2017 cho đến nay ông H1 được Trạm y tế phường An Bình đưa vào đối tượng được cấp phát thuốc thần kinh tại Trạm y tế hàng tháng. Nay, ông Võ Quang G yêu cầu tuyên bố ông Võ Mạnh H1 bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đề nghị chỉ định ông Võ Quang G làm người giám hộ cho ông Võ Mạnh H1.

Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 91/KL-VPYTW ngày 21/5/2025 của V tình trạng bệnh tật của ông Võ Mạnh H1 như sau:

- Tại thời điểm giám định đối tượng Võ Mạnh H1 bị bệnh Tâm thần phân liệt thể không biệt định giai đoạn bệnh thuyên giảm. Theo phân loại quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F20.3;

- Hiện tại đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Kết luận giám định pháp y tâm thần của Viện pháp y tâm thần Trung ương B phù hợp với lời trình bày của người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tình trạng hiện tại của ông H1. Do đó, việc ông Võ Quang G yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Võ Mạnh H1 bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi là có căn cứ chấp nhận, phù hợp quy định tại Điều 23 Bộ luật Dân sự.

Về việc chỉ định người giám hộ:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định ông Võ Quang G là cha ruột và bà Lương Thị H là mẹ ruột của ông Võ Mạnh H1. Ông Võ Mạnh H1 không có vợ con. Ông G yêu cầu Tòa án chỉ định ông là người giám hộ cho ông H1; bà Lương Thị Hòa đồng Ý thống nhất cử ông G làm người giám hộ cho ông H1. Xét thấy, ông G là người có đầy đủ điều kiện của cá nhân làm người giám hộ theo quy định tại các Điều 46, 47, 48, 49, 53, 54 và 136 của Bộ luật Dân sự nên cần chấp nhận.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương là phù hợp nên Tòa án chấp nhận.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: ông Võ Quang G phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, điểm 367, 370, 371, 372, 376, 377, 378 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 23, 46, 47, 48, 49, 53, 54, 57, 58, 59 và 136 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Võ Quang G về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”.

Tuyên bố ông Võ Mạnh H1, sinh năm 1980; thường trú: số C, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Chỉ định ông Võ Quang G, sinh năm 1959; thường trú: 10/21, khu phố Đ, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: số C, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương là người giám hộ cho ông Võ Mạnh H1. Ông Võ Quang G thực hiện quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại Điều 57, 58 Bộ luật Dân sự và thực hiện quản lý tài sản của người giám hộ theo quy định tại Điều 59 Bộ luật Dân sự.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: ông Võ Quang G thuộc trường hợp được miễn nộp lệ phí theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009 và Điều 12, 13 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; đồng thời ông G đã có đơn xin miễn tạm ứng lệ phí, lệ phí. Vì vậy Tòa án chấp nhận miễn lệ phí theo đơn của ông Võ Quang G. Ông Võ Quang G không phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ