- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "dương văn v yêu cù uyên bố một người đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Dương Văn V về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2025/QĐST-DS | Ninh Bình, ngày 14 tháng 8 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: “Tuyên bố một người là đã chết”
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Bùi Thị Nguyệt.
Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Thu Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên họp: Ông Ngô Đức Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 13/2025/TLST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2025, về yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu: Anh Dương Văn V, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Đ, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình). Có mặt.
* Người bị yêu cầu: Ông Dương Văn T, sinh năm 1966.
Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố N, phường Đ, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình); vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và lời khai tại Tòa án, anh Dương Văn V là người yêu cầu trình bầy: Năm 1990 bố anh là ông Dương Văn T, sinh năm 1966 xây dựng gia đình cùng với mẹ anh là bà Trần Thị M, sinh năm 1961. Gia đình anh cùng sinh sống và làm ăn tại thôn N, xã Đ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố N, phường L, tỉnh Ninh Bình). Trong thời gian chung sống gia đình anh sống hòa thuận, vui vẻ không có mâu thuẫn gì. Đến năm 2001, bố anh là ông Dương Văn T đã bỏ nhà đi khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn N, xã Đ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố N, phường L, tỉnh Ninh Bình), kể từ đó cho đến nay không về sống cùng gia đình lần nào nữa. Năm 2013 mẹ anh là bà Trần Thị M chết bố anh cũng không có mặt tại gia đình và nơi cư trú, cũng không thư từ, điện thoại về cho gia đình anh. Cho đến nay đã hơn 20 năm, gia đình anh không ai có tin tức gì của bố anh cả, mặc dù gia đình anh đã tìm kiếm bố anh ở rất nhiều nơi nhưng không có kết quả và không biết hiện nay bố đẻ anh là ông Dương Văn T đang làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết. Vì vậy anh yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Dương Văn T đã chết theo quy định của pháp luật. Ngoài ra anh không còn yêu cầu, đề nghị gì khác.
Tại phiên họp, anh Dương Văn V giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Dương Văn T đã chết. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự của Hội đồng giải quyết việc dân dự, Thư ký phiên họp và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm mở phiên họp về việc giải quyết việc dân sự. Căn cứ vào Điều 27; Điều 35; Điều 39; Điều 149 Điều 361; Điều 369; Điều 391; Điều 392 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 71 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Dương Văn V. Tuyên bố một người là đã chết đối với ông Dương Văn T, sinh năm 1966; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố N, phường Đ, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố N, phường L, tỉnh Ninh Bình. Về lệ phí; Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 5 – Ninh Bình nhận định:
Ông Dương Văn T xây dựng gia đình với bà Trần Thị M, sinh ra được một người con trai là anh Dương Văn V, gia đình sinh sống và làm ăn tại thôn N, xã Đ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố N, phường L, tỉnh Ninh Bình). Quá trình chung sống gia đình sống vui vẻ, hoà thuận không ai có mâu thuẫn gì. Đến năm 2001 ông Dương Văn T đã bỏ nhà và nơi cư trú cuối cùng là thôn N, xã Đ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố N, phường L, tỉnh Ninh Bình) cho đến nay không về gia đình và nơi cư trú lần nào và cũng không liên lạc về cho gia đình đã hơn 20 năm. Gia đình anh V đã tiến hành tìm kiếm ông T ở nhiều nơi nhưng vẫn không có tin tức gì của ông Thủy, không ai biết hiện nay ông T đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết.
Trên cơ sở yêu cầu của anh Dương Văn V, ngày 31 tháng 3 năm 2025 Tòa án nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là Tòa án khu vực 5 – Ninh Bình) ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 04/2025/QĐ-TA đối với ông Dương Văn T được đăng trên báo Công lý 03 số liên tiếp, số 28 ngày 04/4/2025, số 29 ngày 09/4/2025 và số 30 ngày 08/3/3025; phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp là các ngày 08, 09, 10/4/2025. Nay đã hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông Dương Văn T còn sống hay đã chết. Ủy ban nhân dân ph Đ, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Lê H, tỉnh Ninh Bình) cũng xác nhận ông Dương Văn T bỏ đi biệt tích khỏi địa phương từ năm 2001 cho đến nay không có tin tức, không trở về địa phương lần nào. Do đó anh Dương Văn V yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Kim Bảng (nay là Tòa án khu vực 5 - tỉnh Ninh Bình) tuyên bố ông Dương Văn T là đã chết là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Về xác định thời điểm chết: Ông Dương Văn T bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng từ năm 2001. Theo khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết”. Như vậy, ngày chết của người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết được xác định là ngày đầu tiên kế tiếp ngày kết thúc thời hạn, cụ thể là ngày kết thúc thời hạn 05 năm liền biệt tích (đối với trường hợp điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015). Vì vậy, xác định ngày chết của ông Dương Văn Thủy là ngày 01/01/2007.
Anh Dương Văn V cầu Tòa án tuyên bố ông Dương Văn T là đã chết, không yêu cầu xem xét, giải quyết vấn đề nào khác nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về lệ phí: Anh Dương Văn V phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 371 và 372 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 27; khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 370; Điều 371; Điều 372, Điều 391, Điều 392 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 71 và Điều 72 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Dương Văn V về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”.
2. Tuyên bố ông Dương Văn T, sinh năm 1966; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố N, phường Đ, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường L, tỉnh Ninh Bình) là đã chết. Xác định ngày chết của ông Dương Văn T là ngày 01/01/2007.
Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Lệ phí: Anh Dương Văn V phải chịu 300.000đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đồng anh V đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000276 ngày 20 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 - Ninh Bình). Anh V đã nộp đủ.
Anh Dương Văn V có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Ông Dương Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình; - THADS tỉnh Ninh Bình; - Các đương sự; - UBND phường Lê Hồ; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Bùi Thị Nguyệt |