vanban.org

Quyết định 04/2025/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người đã chết của bà Đỗ Thị Thu H.

Tuyên bố: Ông Hoàng Văn T, sinh ngày 10/11/1979, nơ cư trú cuối cùng: Tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đăk Lăk là người đã chết. Ngày chết của ông Hoàng Văn T ngày 02/01/2010. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Đo Thi Thu H - Tuyen bo mọt ngươi da chet"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người đã chết của bà Đỗ Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
HUYỆN CƯM’GAR
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2025/QĐST-DSCưMgar, ngày 26 tháng 6 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố một người là đã chết

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐĂKLĂK

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên họp: Ông Bế Văn Toàn

Thư ký phiên họp: Ông Vũ Đức Đuống – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M’Gar.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Mỹ Châu – Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư M’gar mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 321/2024/TLST – VDS, ngày 24/11/2024, về việc “Tuyên bố một người đã chết”. Theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2025/QĐST – VDS ngày 16 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Người yêu cầu: Bà Đỗ Thị Thu H, sinh năm 1981. (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1979.

Nơ cư trú cuối cùng: Tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đăk Lăk.

+ Anh Hoàng N, sinh năm 2004. (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đăk Lăk.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết: Bà Đỗ Thị Thu H yêu cầu Toà án nhân dân huyện Cư Mgar tuyên bố chồng bà là ông Hoàng Văn T đã chết. Bà Đỗ Thị Thu H không yêu cầu giải quyết vấn đề nào khác.

NỘI DUNG VỤ VIỆC

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 31/10/2024 và quá trình giải quyết vụ việc, bà Đỗ Thị Thu H trình bày:

Chồng tôi là ông Hoàng Văn T, sinh ngày 10/11/1979, tôi và ông Hoàng Văn T ký kết hôn với nhau vào ngày 17/3/2003 và có với nhau 01 con chung là Hoàng N, sinh năm 2004. Chúng tôi sinh sống tại tổ dân phố B, thị trấn Q. Đến tháng 12 năm 2004 ông Hoàng Văn T đi biệt tích đến nay đã hơn 20 năm không rõ tung tích, gia đình đã tìm mọi cách để liên lạc bên nội ngoại để hỏi thăm bà con cũng như dùng mọi biện pháp để tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì của ông Hoàng Văn T bà Đỗ Thị Thu H đơn tuyên bố ông Hoàng Văn T ã chết để thuận tiện trong việc làm các giấy tờ nhân thân và tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Cư Mgarđịnh:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1979. Nơ cư trú cuối cùng: Tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đăk Lăk. Căn cứ vào tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Yêu cầu của bà H1 quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Mgar có quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật kể từ khi thụ lý việc dân sự đến khi mở phiên họp sơ thẩm. Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự.

Thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật, xác định tư cách tố tụng và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự thực hiện đúng theo quy định.

Về nội dung: Đề nghị Toà án nhân dân huyện Cư Mgar chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Thu H.

Về yêu cầu của đương sự: Bà Đỗ Thị Thu H ông Hoàng Văn T đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 17/3/2003 và có với nhau 01 con chung là Hoàng N, sinh năm 2004. Đến tháng 12 năm 2004 ông Hoàng Văn T đi biệt tích đến nay đã hơn 20 năm không rõ tung tích, gia đình đã tìm mọi cách để liên lạc bên nội ngoại để hỏi thăm bà con cũng như dùng mọi biện pháp để tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì của ông Hoàng Văn T bà Đỗ Thị Thu H đơn tuyên bố ông Hoàng Văn T ã chết.

Theo lời trình bày của các đương sự và xác nhận của Ban tự quản Tổ dân phố 2, thị trấn Q và Công an thị trấn Q, huyện C cho biết ông T có kết hôn với bà H, sinh sống tại tổ dân phố B từ những năm 2002 và đến tháng 12/2004 ông T bỏ đi khỏi địa phương đến nay, hiện ông T làm gì ở đâu địa phương không rõ.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm ông Hoàng Văn T quy định của pháp luật, đăng báo lý nhắn tin tìm ông Hoàng Văn T các số 13, 14, 15 ra các ngày 12, 14, 19/02/2025 và phát thông tin trên Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng 03 lần vào ngày 30, 31/12/2024 và ngày 01/01/2025. Hết thời hạn thông báo, bà H không rút đơn yêu cầu, ông T1 trở về, không có tin tức xác thực là ông T còn sống. Do đó, xét yêu cầu tuyên bố ông Hoàng Văn T đã chết của bà H2 căn cứ phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự và Điều 391 Bộ luật tố tụng dân sự nên cần được chấp nhận.

Về xác định ngày ông T mất tích: Do ông T mất tích vào tháng 12 năm 2004, không rõ ngày mất tích nên căn cứ theo khoản 1 Điều 68 BLDS xác định ngày mất tích là ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuôi cùng là ngày 01/01/2005 là ngày mất tích. Tính đến ngày 01/01/2010 là tròn 05 năm mất tích. Do đó, Toà án căn cứ vào khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 BLDS để xác định ngày chết của ông Hoàng Văn T ngày 02/01/2010 (Ngày đầu tiên sau khi hết 05 năm).

Căn cứ vào Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; Tài sản của ông Hoàng Văn T có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Bà Đỗ Thị Thu H hiện đăng ký khai tử cho ông Hoàng Văn T quy định của pháp luật về hộ tịch.

Về lệ phí việc dân sự: Bà Đỗ Thị Thu H chịu lệ phí việc dân sự 300.000đ.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 392, Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 và Điều 72 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người đã chết của bà Đỗ Thị Thu H.

Tuyên bố: Ông Hoàng Văn T, sinh ngày 10/11/1979, nơ cư trú cuối cùng: Tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đăk Lăk là người đã chết. Ngày chết của ông Hoàng Văn T ngày 02/01/2010.

Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; Tài sản của ông Hoàng Văn T có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Bà Đỗ Thị Thu H hiện đăng ký khai tử cho ông Hoàng Văn T theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

2. Về lệ phí toà án: Bà Đỗ Thị Thu H chịu 300.000đ lệ phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà H đã nộp tạm ứng lệ phí theo biên lai thu số AA/2023/0008089 ngày 21/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo 10 ngày tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày nhận được quyết định hoặc được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ