vanban.org

Quyết định 04/2025/QĐ-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 26/02/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/02/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 121/2024/QĐST

DS ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Miễn nộp tiền án phí phúc thẩm cho ông Bùi Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Bùi Văn T- Phòng C Quảng Ninh"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 121/2024/QĐST
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2025/QĐ-PTHạ Long, ngày 26 tháng 02 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên họp: Ông Dương Mạnh Chiến.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Đạt

Ông Trần Quang Cường

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 121/2024/QĐ-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024.

Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, đã căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc Yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi công chứng, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1948. Nơi cư trú: Tổ C khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đặng Văn T1, sinh năm 1957; nơi cư trú: Tổ D Khu H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Ông Bùi Anh T2, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ C khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

- Bị đơn: Phòng C tỉnh Quảng Ninh. Địa chỉ: Tầng D Trung tâm phục vụ Hành chính công Q - phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Đình H, bà Nguyễn Thị T3, ông Bùi Trọng N, bà Trần Thị N1. Cùng cư trú tại: Tổ C khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Tại đơn kháng cáo ngày 02 tháng 01 năm 2025, nguyên đơn ông Bùi Văn T kháng cáo quyết định đình chỉ sơ thẩm với lý do tại Bản án dân sự phúc thẩm số 05/2023/DS-PT ngày 17/3/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh về tranh chấp thừa kế tài sản. Toà án chưa giải quyết về nội dung hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 15/9/2014, giữa cụ Phạm Thị T4 và vợ chồng ông Bùi Đình H – bà Nguyễn Thị T3; hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 15/9/2014 giữa cụ Phạm Thị T4 và vợ chồng ông Bùi Trọng N – bà Trần Thị Tuyết N1 tại Phòng C tỉnh Quảng Ninh, vô hiệu do không có người làm chứng là vi phạm quy định của pháp luật.

Tại phiên họp nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày quan điểm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 121/2024/QĐST-DS ngày 26/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, chuyển hồ sơ vụ án về Toà án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

Ngoài ra tại phiên họp nguyên đơn trình bày cụ Phạm Thị T4 không biết chữ; ngày 15/5/2014 cụ T4 bị đột quỵ phải đi cấp cứu tại Bệnh viện, đến ngày 21/5/2014 xuất viện về nhà trong tình trạng không biết gì; việc công chứng 02 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất trên khi không có người làm chứng là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Công chứng năm 2006.

XÉT THẤY

Tại Đơn sửa đổi nội dung khởi kiện đề ngày 09/12/2024, nguyên đơn đã thay đổi toàn bộ nội dung đơn khởi kiện ngày 22/02/2024, thay đổi yêu cầu khởi kiện về yêu cầu Phòng C tỉnh Quảng Ninh, bồi thường giá trị thiệt hại mà ông Bùi Văn T mất quyền thừa kế trong di sản của cụ Bùi Văn Đ – cụ Phạm Thị T4 (là bố mẹ của ông T) với số tiền 1.688.179.200đ, sang yêu cầu Toà án tuyên bố lời chứng của Công chứng viên Vương Quốc T5 – Phòng C tỉnh Quảng Ninh vào các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 15/9/2014, giữa cụ Phạm Thị T4 với vợ chồng ông Bùi Đình H, bà Nguyễn Thị T3 và vợ chồng ông Bùi Trọng N, bà Trần Thị Tuyết N1 vô hiệu, không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Như vậy yêu cầu khởi kiện nguyên đơn ông Bùi Văn T sau khi thay đổi là yêu cầu Toà án tuyên bố lời chứng của Công chứng viên Vương Quốc T5 – Phòng C tỉnh Quảng Ninh vào các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 15/9/2014, giữa cụ Phạm Thị T4 với vợ chồng ông Bùi Đình H, bà Nguyễn Thị T3 và vợ chồng ông Bùi Trọng N, bà Trần Thị Tuyết N1 vô hiệu; Tòa án đã thông báo cho các đương sự trong vụ án biết về thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật này”. Như vậy lời chứng của Công chứng viên vào các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 15/9/2014, giữa cụ Phạm Thị T4 với vợ chồng ông Bùi Đình H, bà Nguyễn Thị T3 và vợ chồng ông Bùi Trọng N, bà Trần Thị Tuyết N1 là văn bản công chứng. Văn bản công chứng này phù hợp với quy định về giao dịch dân sự của Bộ luật dân sự và quy định của Luật đất đai.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2022/DS-ST ngày 28/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long và Bản án dân sự phúc thẩm số 05/2023/DS-PT ngày 17/3/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, đã xác định các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của cụ Phạm Thị T4 cho các ông N, bà N1 và ông H, bà T3 lập ngày 15/9/2014 không bị vô hiệu; đồng thời không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Bùi Văn T về việc đề nghị Toà án tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 15/9/2014, giữa cụ Phạm Thị T4 với ông Bùi Đình H, bà Nguyễn Thị T3, với ông Bùi Trọng N, bà Trần Thị Tuyết N1 là vô hiệu.

Quá trình giải quyết vụ án ông Bùi Văn T không cung cấp được tài liệu chứng cứ thể hiện việc cụ Phạm Thị T4 không biết chữ hoặc tài liệu chứng cứ thể hiện vào thời điểm ngày 15/9/2014, cụ Phạm Thị T4 bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng phúc thẩm thấy rằng Toà án nhân dân thành phố Hạ Long căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết vụ án vì sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án là đúng quy định của pháp luật, vì vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Văn T.

Về án phí: Nguyên đơn ông Bùi Văn T là người cao tuổi và xin miễn án phí, thuộc trường hợp được xem xét miễn nộp tiền án phí, theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 121/2024/QĐST

- DS ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

2. Miễn nộp tiền án phí phúc thẩm cho ông Bùi Văn T.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ