- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Minh T.
- Căn cứ chính? Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 131 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2024/QĐST-VDS | Nghĩa Lộ, ngày 24 tháng 12 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: ông Đặng Quốc Hưng.
Thư ký phiên họp: bà Nguyễn Thị Ngân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên họp: bà Hà Thị Nguyên Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 04/2024/TLST-VDS ngày 10 tháng 12 năm 2024 về việc: yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 36/2024/QĐST-VDS ngày 16 tháng 12 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Minh T- Công chứng viên- Trưởng văn phòng C1. Địa chỉ: Số B đường Đ, tổ D, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái.
(Vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Ông Nguyễn Minh T yêu cầu tuyên bố hợp đồng ủy quyền giữa bà Lò Thị H và anh Vũ Quang C số công chứng: 3425 Quyển số 02/2024TP/CC-SCC/HĐGD chứng nhận ngày 25/7/2024 tại văn phòng công chứng Nguyễn Minh T vô hiệu theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Lò Thị H, sinh năm 1956,
Địa chỉ: Tổ B, phường P, thị xã N, tỉnh Yên Bái.
(vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
+ Anh Vũ Quang C, sinh năm 1991,
Địa chỉ: Bản Đ, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái.
(vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và bản tự khai, ông Nguyễn Minh T trình bày:
Ngày 25/7/2024 văn phòng C1 tiếp nhận yêu cầu công chứng hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền là bà Lò Thị H bên được ủy quyền là anh Vũ Quang C, nội dung: Bà H ủy quyền cho anh C toàn quyền quyết định việc đặt cọc, chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà H có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 887742 do UBND thị xã N cấp ngày 05/11/2008. Do bà Lò Thị H không biết đọc, biết viết nên đã tự mời bà Hoàng Thị N, sinh năm 1986, trú tại Tổ B, phường P, thị xã N là người làm chứng cho mình.
Sau khi kiểm tra hồ sơ người yêu cầu công chứng cung cấp, xét thấy có đủ các điều kiện để làm hợp đồng ủy quyền theo quy định của pháp luật, Công chứng viên Nguyễn Minh T đã thực hiện việc công chứng hợp đồng ủy quyền, số công chứng: 3425 Quyển số 02/2024TP/CC-SCC/HĐGD chứng nhận ngày 25/7/2024.
Ngày 26/11/2024, văn phòng C1 nhận được công văn số 1716/VPCQCSĐT ngày 25/11/2024 của cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Y cùng các tài liệu kèm theo, yêu cầu văn phòng C1 đề nghị tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ hủy hợp đồng ủy quyền đã công chứng số: 3425 Quyển số 02/2024TP/CC-SCC/HĐGD chứng nhận ngày 25/7/2024, vì xác định bà Hoàng Thị N đã có hành vi gian dối lừa bà Lò Thị H điểm chỉ vào hợp đồng ủy quyền cho anh Vũ Quang C nhằm chiếm đoạt số tiền 300.000đ của anh C. Do đó ông T đề nghị tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tuyên bố hợp đồng ủy quyền nêu trên vô hiệu.
Ngày 16/12/2024, ông Nguyễn Minh T có đơn xin vắng mặt tại phiên họp và vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng ủy quyền giữa bà Lò Thị H và anh Vũ Quang C nêu trên vô hiệu.
Người có quyền lợi liên quan bà Lò Thị H trình bày: Khoảng tháng 7/2024, gia đình tôi có nhu cầu vay vốn ngân hàng nên đã đến UBND phường P để xin một số giấy tờ liên quan đến thủ tục vay vốn, tại đây tôi đã gặp bà Hoàng Thị N khi đó đang là phó chủ tịch UBND phường P, qua trao đổi bà N nhận làm giúp, bà N yêu cầu tôi đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình để bà tiện giải quyết. Sau đó bà N đưa tôi đến văn phòng công chứng Nguyễn Minh T và điểm chỉ vào giấy tờ gì đó, do tôi không biết chữ nên không biết nội dung giấy viết gì, nhưng vì tin tưởng bà N đang là phó chủ tịch UBND phường nên không nghi ngờ gì. Tôi khẳng định không quen biết anh Vũ Quang C, không ủy quyền cho anh C thực hiện công việc vì. Nay được công an tỉnh Y thông báo tôi mới biết đã bị bà N lừa dối điểm chỉ vào bản hợp đồng ủy quyền đó nên tôi yêu cầu tòa án hủy bỏ và tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng ủy quyền đã công chứng ngày 25/7/2024.
Do tuổi cao, đi lại khó khăn bà Lò Thị H đề nghị tòa án giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi liên quan anh Vũ Quang C trình bày: Khoảng ngày 22/7/2024, bà Hoàng Thị N gọi điện cho tôi giới thiệu là phó chủ tịch UBND phường P và đặt vấn đề hiện nay có một hộ gia đình trên địa bàn phường đã được nhà nước hỗ trợ làm nhà và hỏi tôi cho họ vay tiền để họ lấy vật liệu xây nhà trước, tôi đồng ý nhưng yêu cầu phải có tài sản thế chấp. Sau khi thỏa thuận với bà N, tôi đã đến văn phòng công chứng Nguyễn Minh T và đưa cho bà N hợp đồng ủy quyền tôi đã soạn trước, tại đây tôi không giao dịch gì với bà H mà chỉ giao dịch với bà N. Tôi thấy bà N bảo bà H điểm chỉ vào hợp đồng, bà N cũng ký vào hợp đồng này sau đó công chứng viên làm thủ tục công chứng. Thực hiện xong tôi đã chuyển cho bà N 300.000.000đ, đến nay bà N vẫn chưa trả cho tôi đồng nào. Nay được công an tỉnh Y thông báo tôi mới biết bà H đã bị bà N lừa dối điểm chỉ vào bản hợp đồng ủy quyền đó để chiếm đoạt 300.000.000đ của tôi, nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Do bận việc làm ăn ông Vũ Quang C đề nghị tòa án giải quyết vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, thư ký và người yêu cầu đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Về giải quyết việc dân sự: đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Minh T tuyên bố hợp đồng ủy quyền giữa bà Lò Thị H và anh Vũ Quang C số công chứng: 3425 Quyển số 02/2024TP/CC-SCC/HĐGD chứng nhận ngày 25/7/2024 tại văn phòng C1 vô hiệu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ, ý kiến của các đương sự có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự:
Hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền là bà Lò Thị H và bên được ủy quyền là anh Vũ Quang C được ký kết ngày 25/7/2024 có bà Hoàng Thị N là người làm chứng và được ông Nguyễn Minh T- Công chứng viên- Trưởng văn phòng C1 có địa chỉ: Số B đường Đ, tổ D, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái công chứng số: 3425. Quyển số 02/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/7/2024. Nay ông Nguyễn Minh T có đơn yêu cầu tòa án tuyên bố Hợp đồng ủy quyền trên vô hiệu. Đây là việc dân sự yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu quy định tại khoản 6 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm m khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết việc dân sự thuộc Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.
Về yêu cầu ông Nguyễn Minh T đề nghị tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu:
Hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền là bà Lò Thị H bên được ủy quyền là anh Vũ Quang C được ký kết ngày 25/7/2024 và được ông Nguyễn Minh T- Công chứng viên- Trưởng văn phòng C1 công chứng số: 3425 Quyển số 02/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/7/2024 đã được thực hiện đúng theo trình tự pháp luật quy định.
Tuy nhiên kết quả điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Y đã xác định: Bà Hoàng Thị N đã có hành vi gian dối lừa để bà Lò Thị H điểm chỉ vào hợp đồng ủy quyền cho anh Vũ Quang C nhằm chiếm đoạt số tiền 300.000.000đ của anh C, hành vi của bà N đã vi phạm điểm c khoản 2 Điều 7 Luật Công chứng. Cơ quan điều tra công an tỉnh Y đã khởi tố vụ án số 48/QĐ-VPCQCSĐT ngày 27/9/2024, khởi tố bị can số 114/QĐ-VPCQCSĐT ngày 27/9/2024 đối với Hoàng Thị N về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại khoản 4, Điều 174 Bộ luật Hình sự. Điều 127 Bộ luật Dân sự quy định: Một bên tham gia giao dịch bị lừa dối thì giao dịch đó vô hiệu, do đó ông Nguyễn Minh T đề nghị tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tuyên bố hợp đồng ủy quyền đã công chứng số: 3425 Quyển số 02/2024TP/CC-SCC/HĐGD chứng nhận ngày 25/7/2024 vô hiệu là có căn cứ, được chấp nhận.
Căn cứ các Điều 131, 407 của Bộ luật dân sự thì giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập; khi giao dịch dân sự vô hiệu các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Tuy nhiên trong việc dân sự này, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 887742 do UBND thị xã N cấp ngày 05/11/2008 mang tên bà Lò Thị H mà ông C giữ sau khi ký hợp đồng ủy quyền, theo ông C trình bày đã nộp cho Cơ quan điều tra công an tỉnh Y vào tháng 10/2024 và bà H xác nhận đã được Cơ quan điều tra công an tỉnh Y trả lại cho bà vào ngày 20/10/2024, nên nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận không phát sinh.
Về lệ phí: Ông Nguyễn Minh T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Minh Tú bà Lò Thị H, anh Vũ Quang C có quyền kháng cáo quyết định theo quy định pháp luật.
Vì lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 122, 127, 407 của Bộ luật dân sự; điểm c khoản 2 Điều 7 Luật Công chứng.
Căn cứ các Điều 27, 35, 39, 149, 367, 370, 371, 372, 400 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Minh T.
Tuyên bố: Hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền là bà Lò Thị H bên được ủy quyền là anh Vũ Quang C ký kết ngày 25/7/2024 và được ông Nguyễn Minh T- Công chứng viên- Trưởng văn phòng C1 công chứng số: 3425 Quyển số 02/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/7/2024 vô hiệu.
2. Về lệ phí dân sự: ông Nguyễn Minh T phải chịu 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số AA/2024/0001337 ngày 10/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ, ông Nguyễn Minh T đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Minh T, bà Lò Thị H, anh Vũ Quang C có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc niêm yết quyết định.
4. Quyền kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ có quyền kháng nghị quyết định trong hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; người CQLLQ; - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái; - VKSND TX Nghĩa Lộ; - THADS TX Nghĩa Lộ; - Lưu HS. | Đã ký Đặng Quốc Hưng |