vanban.org

Quyết định 04/2024/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Lê Văn S. Tuyên bố ông Lê Văn L, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH SƠN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2024/QĐST – VDS
Ngày 28-3-2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Trung Linh

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Hùng Thanh Vũ – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Kim Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 46/2024/TLST-VDS ngày 02 tháng 01 năm 2024 về việc“Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 14/2024/QĐST-VDS ngày 15 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 08/2024/QĐST-VDS ngày 29 tháng 01 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Lê Văn S, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1. Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.

2.2. Bà Lê Thị T, sinh năm 1963; Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

3.1. Ông Lê Văn S yêu cầu tuyên bố ông Lê Văn L, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

3.2. Ông Lê Văn S yêu cầu Tòa án chỉ định ông Lê Văn S làm người giám hộ cho ông Lê Văn L.

Các đương sự đều có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 18 tháng 12 năm 2023 và đơn trình bày ý kiến ngày 25 tháng 01 năm 2024, ông Lê Văn S là người yêu cầu giải quyết việc dân sự trình bày:

Cha của ông Lê Văn S là cụ Lê X (chết 2009) và mẹ là cụ Bùi Thị L1 (chết 1983) sinh được 05 người con là Lê Văn S, Lê Thị Đ, Lê Thị T, Lê Văn L và Lê Văn T1 (chết 2021).

Năm 1987, em trai của ông là Lê Văn L có những biểu hiện bất thường, ít tiếp xúc với mọi người xung quanh, đau đầu, nói nhảm, không tắm rửa, gia đình đưa ông Lê Văn L đi trị bệnh nhưng không thuyên giảm. Năm 2021 gia đình đưa ông Lê Văn L đi khám và điều trị tại Bệnh viện T3, Bệnh viện chuẩn đoán ông Lê Văn L bị tâm thần phân liệt, sau đó gia đình đưa ông Lê Văn L về điều trị tại nhà, bệnh tình có thuyên giảm nhưng ông L khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, không thể thực hiện được các giao dịch dân sự liên quan nên cần có người giám hộ để thực hiện các giao dịch dân sự nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lê Văn L.

Ngày 04/12/2023 Trung tâm P giám định và kết luận: Ông Lê Văn L khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, nên ông Lê Văn S yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Văn L có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và đề nghị Tòa án chỉ định ông Lê Văn S làm người giám hộ cho ông Lê Văn L. Lý do ông Lê Văn S yêu cầu là để thực hiện các giao dịch dân sự nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lê Văn L.

- Tại Đơn trình bày ý kiến đề ngày 25 tháng 01 năm 2024, bà Lê Thị Đ và bà Lê Thị T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều trình bày: Bà Đ và bà T đều thống nhất với những nội dung ông Lê Văn S trình bày và việc ông Lê Văn S yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Văn L có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và thống nhất cử ông Lê Văn S làm người giám hộ cho ông Lê Văn L để thực hiện các giao dịch dân sự nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Văn L.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp:

- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết việc dân sự Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ vào các điều 367, 369, 370, 376, 378 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 23, 46, 47, 48, 49 của Bộ luật dân sự. Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Lê Văn S: Tuyên bố ông Lê Văn L là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định ông Lê Văn S là người giám hộ cho ông Lê Văn L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn nhận định:

Về tố tụng: Ông Lê Văn S yêu cầu tuyên bố ông Lê Văn L, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng Dân sự. Quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Lê Văn S, bà Lê Thị Đ, Lê Thị T đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành phiên họp vắng mặt của những người có tên nêu trên.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của ông Lê Văn S về việc tuyên bố ông Lê Văn L có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, thấy rằng:

Về quan hệ nhân thân: Theo trình bày của ông Lê Văn S, bà Lê Thị Đ, Lê Thị T và xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B, có cơ sở xác định: Cụ Lê X (chết 2009) và cụ Bùi Thị L1 (chết 1983) sinh được 05 người con gồm các ông bà: Lê Văn S (anh cả), Lê Thị Đ, Lê Thị T, Lê Văn L và Lê Văn T1 (chết 2021). Lê Văn L chưa có vợ con.

Về khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của ông Lê Văn L: Theo Sổ điều trị ngoại trú tâm thần số 03D/BV-01 của Bệnh viện T3 thì từ năm 2021 đến năm 2023 ông Lê Văn L phải sử dụng thuốc theo chỉ dẫn của Bệnh viện. Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 1664/KLGĐYC ngày 04-12-2023 của Trung tâm P đối với ông Lê Văn L, kết luận: Về năng lực hành vi dân sự: Khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do đó, ông Lê Văn S là anh cả của ông Lê Văn L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Văn L có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi để có người giám hộ thực hiện các giao dịch dân sự nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lê Văn L là có căn cứ nên được chấp nhận.

Xét yêu cầu của ông Lê Văn S về việc chỉ định ông Lê Văn S là người giám hộ cho ông Lê Văn L, thấy rằng: Cha, mẹ của ông Lê Văn L đều đã chết, ông Lê Văn L chưa có vợ, con; ông Lê Văn S, bà Lê Thị Đ và bà Lê Thị T là anh, chị ruột của ông Lê Văn L; bà Đ và bà T đồng ý cử ông Lê Văn S là anh cả làm người giám hộ cho ông Lê Văn L; tại văn bản đề ngày 18-12-2023 (có xác nhận của người chứng kiến Đỗ Thị Thúy L2) ông Lê Văn L đồng ý lựa chọn ông Lê Văn S làm người giám hộ và ông Lê Văn S là người đủ điều kiện làm người giám hộ theo quy định tại điều 49 của Bộ luật dân sự, nên chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn S, chỉ định ông Lê Văn S là người giám hộ cho ông Lê Văn L.

Sau khi quyết định này có hiệu lực pháp luật, ông Lê Văn S có trách nhiệm liên hệ với Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi để thực hiện việc đăng ký người giám hộ cho ông Lê Văn L theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Những người thân tích của ông Lê Văn L có thể cử một người để giám sát việc giám hộ của ông Lê Văn S đối với ông Lê Văn L theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật dân sự.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Lê Văn S là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nên miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự đối với ông Lê Văn S.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, khoản 1, 4 Điều 91, các điều 93, 94, 95, 102, 361, 366, 367, 369, 370, 371, 372, 376, 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các điều 19, 23, 46, 47, 48, 49, 51, 57, 58, 59, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Dân sự;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Lê Văn S.

2. Tuyên bố ông Lê Văn L, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

3. Chỉ định ông Lê Văn S là người giám hộ cho ông Lê Văn L; ông Lê Văn S có trách nhiệm liên hệ với Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi để thực hiện việc đăng ký người giám hộ cho ông Lê Văn L theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

4. Ông Lê Văn S có các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ.

5. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Lê Văn S được miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí và tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

6. Về thời hạn kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự không có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo hoặc niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

7. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

- TAND, VKSND tỉnh Quảng Ngãi;

- VKSND huyện Bình Sơn;

- Chi cục THADS huyện B;

- UBND xã B;

(Đã ký)

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ việc dân sự.

Nguyễn Trung Linh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quang T2

Cỡ chữ