vanban.org

Quyết định 04/2024/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị H.

Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38, ngày 12/6/1993 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Qu đã cấp cho ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị Thanh H. Về yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp của ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị H: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn đăng Đông - Lê thị Hoài"
  • Tòa quyết gì? Về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH QU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2024/QĐST-HNGĐB, ngày 06 tháng 11 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận hôn nhân hợp pháp

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH QU

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lan Phương

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên họp: Ông Lưu Minh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Qu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 25/2024/TLST-VHNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc “Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận hôn nhân hợp pháp” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2024/QĐST-VDS ngày 22 tháng 10 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông Nguyễn Đăng Đ, sinh ngày 12/7/1972; nơi cư trú: thôn Lý Nhân, xã Đ, huyện B, tỉnh Qu. Có mặt.

Bà Lê Thị H, sinh ngày 12/6/1976; nơi cư trú: thôn Lý Nhân, xã Đ, huyện B, tỉnh Qu. Có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai của ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị H trình bày:

Ông Nguyễn Đăng Đ, sinh ngày 12/7/1972 và bà Lê Thị H, sinh ngày 12/6/1976 tự nguyện đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn ngày 12/6/1993 tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Qu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38. Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng ông bà đã tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và làm ăn sinh sống ổn định tại xã Đ từ đó cho đến nay. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, ông Nguyễn Đăng Đ đã đủ tuổi đăng ký kết hôn nhưng bà Lê Thị H chưa đủ tuổi kết hôn. Do hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên ông bà tự khai sai ngày tháng năm sinh với cán bộ tư pháp xã để bà Lê Thị H thực tế sinh ngày 12/6/1976 nhưng khai bà Lê Thị Thanh H sinh ngày 08/10/1974 đủ điều kiện đăng ký kết hôn và cũng đã khai ông Nguyễn Đăng Đ, thực tế sinh ngày 12/7/1972 nhưng khai ông Nguyễn Đăng Đ, sinh ngày 11/5/1972. Khi đăng ký kết hôn vợ chồng ông Đ và bà H chỉ khai thông tin cho cán bộ tư pháp xã chứ không nộp giấy tờ tùy thân và cán bộ tư pháp xã cũng không yêu cầu vợ chồng xuất trình giấy tờ. Khi làm thủ tục đăng ký kết hôn cho ông bà, cán bộ tư pháp xã đã ghi tên, tuổi, địa chỉ theo lời khai của ông bà. Từ khi kết hôn đến nay vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc và sinh được 02 con chung. Tuy nhiên, ông Đ và bà H nhận thấy việc đăng ký kết hôn năm 1993 của vợ chồng là trái pháp luật, gây ảnh hưởng đến quá trình làm thủ tục giấy tờ pháp lý cho gia đình và các con nên ông Đ, bà H đề nghị Tòa án nhân dân huyện B hủy việc đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38 ngày 12/6/1993 do Uỷ ban nhân dân xã Đ cấp và công nhận hôn nhân hợp pháp cho vợ chồng kể từ ngày bà Lê Thị H đủ tuổi đăng ký kết hôn là 13/6/1993.

Tại Biên bản xác minh ngày 11/9/2024, UBND xã Đ xác nhận: theo Sổ đăng ký kết hôn quyển số 01 thời gian bắt đầu sử dụng ngày 24/12/1981, kết thúc ngày 27/12/1995 lưu trữ tại UBND xã Đ, tại số thứ tự 38 ngày 12/6/1993 có đăng ký kết hôn cho ông Nguyễn Đăng Đ, sinh ngày 11/5/1972 và bà Lê Thị Thanh H, sinh ngày 08/10/1974. Ngoài sổ cấp giấy chứng nhận kết hôn năm này thì UBND xã Đ không còn lưu trữ hồ sơ, tài liệu gì liên quan đến việc đăng ký kết hôn của ông Đ và bà H. Tại thời điểm năm 1993 ông Đ và bà H tự kê khai thông tin cá nhân nên việc bà H cố tình khai thông tin năm sinh sai để đủ tuổi đăng ký kết hôn và không nộp kèm theo giấy tờ tùy thân để lưu trữ hồ sơ đăng ký kết hôn. Ông Đ và bà H có yêu cầu đề nghị Tòa án hủy đăng ký kết hôn trái pháp luật và công nhận hôn nhân hợp pháp cho ông bà thì UBND xã Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, UBND xã Đ đã xác nhận ông Nguyễn Đăng Đ, sinh ngày 12/7/1972, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 18/7/2022 với Nguyễn Đăng Đ, sinh ngày 11/5/1972 trong giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 38 ngày 12/6/1993 là một người. Uỷ ban nhân dân xã cũng đã xác nhận bà Lê Thị H, sinh ngày 12/6/1976, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 14/4/2022 với Lê Thị Thanh H, sinh ngày 08/10/1974 trong giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 38 ngày 12/6/1993 là một người.

Ông Nguyễn Đăng Đ xác định ngày, tháng, năm sinh thực tế, đúng là ngày 12/7/1972. Bà Lê Thị H xác định ngày, tháng, năm sinh thực tế, đúng là ngày 12/6/1976.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện B thụ lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theo yêu cầu của ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị H là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 29 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến phiên họp: Thẩm phán, Thư ký đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Các đương sự chấp hành tốt các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng giải quyết việc dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và trình bày của các đương sự. Đề nghị áp dụng Điều 149, Điều 366, Điều 367, Điều 369, 370, 371 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5 và 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; khoản 2 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư Liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã xác định được ngày tháng năm sinh đúng của ông Nguyễn Đăng Đ là ngày 12/7/1972 và bà Lê Thị H là ngày 12/6/1976. Tại thời điểm đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, bà H cố tình kê khai thông tin năm sinh sai để đủ tuổi đăng ký kết hôn. Nhưng trên thực tế theo giấy tờ tuỳ thân, bà H chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn, đã vi phạm quy định về độ tuổi đăng ký kết hôn vì vậy hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38 ngày 12/6/1993 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Qu đã cấp cho ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị Thanh H. Công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị H từ thời điểm bà Lê Thị H đủ tuổi đăng ký kết hôn là ngày 13/6/1993. Về lệ phí: Bà H và ông Đ phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện B nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu của ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị H thì đây là việc dân sự yêu cầu “Hủy việc kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn hợp pháp”. Ông Đ và bà H cư trú tại thôn Lý Nhân, xã Đ, huyện B, tỉnh Qu theo quy định tại Điều 29, Điều 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Qu.

Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Xác định thời điểm kết hôn trên cơ sở tự nguyện giữa ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị H được thể hiện tại Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 38 ngày 12/6/1993 của Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Qu. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp xác định được ngày tháng năm sinh đúng của ông Nguyễn Đăng Đ là ngày 12/7/1972 và của bà Lê Thị H là ngày 12/6/1976; bà Lê Thị Thanh H là Lê Thị H, như vậy tại thời điểm đăng ký kết hôn ông Đ đã 20 tuổi 11, bà H mới 17 tuổi. Căn cứ Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 bà Lê Thị H đã vi phạm quy định về độ tuổi đăng ký kết hôn. Ông Đ và bà H yêu cầu Toà án huỷ kết hôn trái pháp luật là có căn cứ theo quy định tại Điều 5 và 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 nên được chấp nhận.

Về yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp: Từ khi đăng ký kết hôn đến thời điểm hiện nay, ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị H vẫn đang chung sống hòa thuận, hạnh phúc và đã có con chung. Ông Đ và bà H đều có yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp từ thời điểm bà H đủ tuổi đăng ký kết hôn là ngày 13/6/1993. Xét thấy, tại thời điểm ngày 13/6/1993, bà H đã 18 tuổi, ông Đ đã 21 tuổi. Như vậy, ông Đ và bà H đã đủ tuổi kết hôn theo quy định tại Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Căn cứ khoản 2 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư Liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị H từ thời điểm bà Lê Thị H đủ tuổi đăng ký kết hôn là ngày 13/6/1993.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Đăng Đ phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 29, 35, 39,149, Điều 366, 367, Điều 369, 370, 371 và 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; khoản 2 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị H.

Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38, ngày 12/6/1993 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Qu đã cấp cho ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị Thanh H.

2. Về yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp của ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị H:

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị H, công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa ông Nguyễn Đăng Đ, sinh ngày 12/7/1972 và bà Lê Thị H, sinh ngày 12/6/1976 kể từ thời điểm bà Lê Thị H đủ tuổi đăng ký kết hôn là ngày 13/6/1993.

3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Đăng Đ và bà Lê Thị H phải nộp mỗi người 150.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự. Ông Nguyễn Đăng Đ thống nhất chịu toàn bộ 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0002699 ngày 03/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Qu. Ông Đ đã nộp đủ tiền lệ phí.

4. Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định giải quyết việc dân. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ