vanban.org

Quyết định 04/2024/QĐDS-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn H.

Tuyên bố cháu Trương Nguyễn H.T là con ruột của anh Nguyễn Văn H, chị Trương Thị K.N. Các đương sự có quyền liên hệ đến Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang (hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú) để xin cấp, điều chỉnh lại giấy khai sinh cho cháu Trương Nguyễn H.T theo quy định pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn H với Trương Nguyễn H.T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Quyết định số:04/2024/QĐDS-ST
Ngày: 14/8/2024
V/v“Yêu cầu xác nhận cha, mẹ
cho con”.

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Hà Huy Phong

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên họp: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Lê Tường Vi

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang mở phiên họp giải quyết việc dân sự theo hồ sơ thụ lý số 315/2024/TLST-VDS (HN) ngày 25 tháng 4 năm 2024, giải quyết việc dân sự về “yêu cầu xác nhận cha, mẹ cho con”, giữa:

Người yêu cầu:

- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1976; nơi cư trú: ấp A, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx ngày 27/02/2022 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ Công an cấp, (có mặt).

Người bị yêu cầu: Cháu Trương Nguyễn H.T, sinh ngày 20/4/2021; nơi cư trú: ấp A, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (Theo giấy khai sinh số 522 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C cấp ngày 06/7/2022), (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Trương Thị K.N, sinh năm 1988; nơi cư trú: ấp A, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx ngày 27/02/2022 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ Công an cấp, (có mặt).

NHẬN THẤY:

Theo đơn yêu cầu, anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh và chị Trương Thị K.N quen biết và chung sống với nhau vào khoảng tháng 4/2020 đến ngày 20/4/2021 thì sinh ra con chung đặt tên Trương Nguyễn H.T (đặt theo họ mẹ). Do thời điểm này, chị N chưa ly hôn với anh Lê Quốc D. Đến tháng 10/2023 thì chị N ly hôn với anh D và thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 08/4/2024. Theo giấy khai sinh cháu Trương Nguyễn H.T chỉ thể hiện họ tên mẹ, thiếu thông tin về cha ruột, mang họ của mẹ. Vì vậy, anh H yêu cầu Tòa án tuyên bố cháu Trương Nguyễn H.T, sinh ngày 20/4/2021 là con chung của anh với chị N với lý do để anh, chị thực hiện việc đăng ký, điều chỉnh bổ sung họ tên cha, cải chính lại giấy khai sinh cho cháu theo họ của cha ruột.

Tại phiên họp, anh H vẫn giữ nguyên yêu cầu xác định cháu Trương Nguyễn H.T là con ruột của anh và chị Trương Thị K.N; chị N thống nhất với yêu cầu của anh H. Anh, chị thống nhất với Kết luận số 4082/KL-KTHS ngày 01/8/2024 giám định về Gien (ADN) của Phân viện Khoa học hình sự, Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, phát biểu quan điểm giải quyết;

- Về tố tụng: thủ tục giải quyết việc dân sự được thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định.

- Về nội dung: Anh Hồng và chị Nguyên quen biết, chung sống với nhau vào khoảng tháng 4/2020 đến ngày 20/4/2021 thì sinh ra con chung đặt tên Trương Nguyễn H.T, đặt theo họ mẹ. Do thời điểm này, chị N chưa ly hôn với anh Lê Quốc D. Đến tháng 10/2023 chị N ly hôn với anh D và thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn với anh H tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C vào ngày 08/4/2024; anh H yêu cầu tuyên bố cháu Trương Nguyễn H.T, sinh ngày 20/4/2021 là con chung của anh với chị N để thực hiện việc đăng ký, điều chỉnh lại giấy khai sinh cho đầy đủ họ tên cha, mẹ ruột và cải chính theo họ cha.

Tại Kết luận giám định số 4082/KL-KTHS ngày 01/8/2024 của Phân viện Khoa học hình sự, Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh, xác định: cháu Trương Nguyễn H.T là con ruột của anh Nguyễn Văn H và chị Trương Thị K. N nên việc anh H, chị N yêu cầu là có căn cứ.

Đề nghị, áp dụng Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 376, Điều 378 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn H.

- Tuyên bố cháu Trương Nguyễn H.T là con ruột của anh Nguyễn Văn Hồng và chị Trương Thị K.N.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, diễn biến tại phiên họp và phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự.

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền:Người yêu cầu, người bị yêu cầu có nơi cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung: Anh H và chị N quen biết và chung sống với nhau vào khoảng tháng 4/2020 đến ngày 20/4/2021 thì sinh ra con chung đặt tên Trương Nguyễn H.T (đặt theo họ mẹ) do thời điểm này, chị N vẫn còn tồn tại hôn nhân với anh Lê Quốc D. Đến tháng 10/2023, chị N ly hôn với anh D và thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 08/4/2024. Vì vậy, anh H đề nghị tuyên bố cháu Trương Nguyễn H.T, sinh ngày 20/4/2021 là con ruột của anh với chị N để thực hiện việc đăng ký, điều chỉnh lại giấy khai sinh cho đúng, đầy đủ họ tên cha, mẹ ruột; cải chính theo họ của cha.

Tại Kết luận giám định số 4082/KL-KTHS ngày 01/8/2024 của Phân viện Khoa học hình sự, Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh, xác định: cháu Trương Nguyễn H.T là con ruột của anh Nguyễn Văn H và chị Trương Thị K. N. Vì vậy, việc anh H, chị N yêu cầu tuyên bố cháu Trương Nguyễn H.T là con ruột của anh, chị là có căn cứ, phù hợp với Điều 89 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về chi phí tố tụng: Anh H, chị N phải chịu chi phí hỗ trợ đưa đi giám định là 900.000 đồng (chín trăm nghìn). Anh H, chị N đã nộp xong.

Chi phí tố tụng khác: chi phí cho việc thực hiện giám định gien (ADN), anh H, chị N đã thanh toán trực tiếp với Phân Viện khoa học hình sự - Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh nên không đặt ra xem xét.

Về lệ phí: Anh H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 371, Điều 376 và Điều 378 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn H.

Tuyên bố cháu Trương Nguyễn H.T là con ruột của anh Nguyễn Văn H, chị Trương Thị K.N.

Các đương sự có quyền liên hệ đến Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang (hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú) để xin cấp, điều chỉnh lại giấy khai sinh cho cháu Trương Nguyễn H.T theo quy định pháp luật.

2. Về chi phí giám định: Anh H, chị N đã thanh toán với Phân Viện khoa học hình sự - Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh, không đặt ra xem xét.

3. Về chi phí tố tụng: Anh H, chị N đã nộp xong chi phí cho việc hỗ trợ thực hiện việc giám định Gien (ADN) tại Thành phố Hồ Chí Minh nên không xem xét.

4. Về lệ phí: Anh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) lệ phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng anh Hồng đã nộp theo các biên lai thu tiền số 0015415 ngày 25/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn (07) bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định. Trường hợp vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc nhận được niêm yết quyết định.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ