vanban.org

Quyết định 04/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 08/03/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Đỗ Đăng L, tuyên bố bà Trần Thị X, sinh năm 1955 (tên gọi khác Trần Thị S, sinh năm 1956); địa chỉ trước khi biệt tích: Thôn 01, MG, xã KG, huyện TN, thành phố Hải Phòng là đã chết.

Khi quyết định của Toà án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "tuyên bố chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Đỗ Đăng L, tuyên bố bà Trần Thị X, sinh năm 1955 (tên gọi khác Trần Thị S, sinh năm 1956); địa chỉ trước khi biệt tích: Thôn 01, MG, xã KG, huyện TN, thành phố Hải Phòng là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
TN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2023/QĐST-VDSTN, ngày 08 tháng 3 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Vân

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện

TN, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 103/2022/TLST-VDS ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với bà Trần Thị X, sinh năm 1955 (tên gọi khác là Trần Thị S, sinh năm 1956); địa chỉ trước khi biệt tích: Thôn 01, xã KG, huyện TN, thành phố Hải Phòng theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2023/QĐST-VDS ngày 27 tháng 02 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Đỗ Đăng L, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn 01, MG, xã KG, huyện TN, thành phố Hải Phòng, vắng mặt và có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Đỗ Đăng L, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn 01, MG, xã KG, huyện TN, thành phố Hải Phòng, vắng mặt và có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.

Anh Đỗ Đăng D, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn 01, MG, xã KG, huyện TN, thành phố Hải Phòng, vắng mặt và có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.

Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn 3, xã KG, huyện TN, thành phố Hải Phòng, vắng mặt và có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và các lời trình bày tại Tòa án nhân dân huyện TN, anh Đỗ Đăng L (người có đơn yêu cầu) trình bày: Mẹ anh là bà Trần Thị X (tên gọi khác là Trần Thị S) và bố anh là ông Đỗ Đăng L. Ông L và bà X có 03 người có chung tên là: Đỗ Đăng L, sinh năm 1979; Đỗ Đăng D, sinh năm 1985 và Đỗ Thị T, sinh năm 1982. Bà X và ông L không có con riêng, không có con nuôi và bố mẹ nuôi, bố mẹ của bà X và ông L đều đã chết. Quá trình sinh sống tại địa phương đến năm 1995, không hiểu lý do gì, bà X bỏ đi biệt tích cho đến nay. Gia đình anh L đã đi tìm kiếm khắp nơi nhưng đến nay không có kết quả, bà X cũng chưa lần nào trở về, không có tin tức gì về bà X hiện nay ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết nên anh L đề nghị Toà án tuyên bố bà Trần Thị X (tên gọi khác Trần Thị S) là đã chết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Đăng L, anh Đỗ Đăng D và chị Đỗ Thị T đều thống nhất với trình bày của anh L và đề nghị Toà án tuyên bố bà Trần Thị X (tên gọi khác là Trần Thị S) là đã chết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên họp, người yêu cầu là anh Đỗ Đăng L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Đăng L, anh Đỗ Đăng D và chị Đỗ Thị T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp nên căn cứ vào khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành họp vắng mặt anh Đỗ Đăng L, ông Đỗ Đăng L, anh Đỗ Đăng D và chị Đỗ Thị T.

Bà Trần Thị X là người mà anh Đỗ Đăng L đề nghị tuyên bố là đã chết có địa chỉ trước khi biết tích tại thôn 01, MG, xã KG, huyện TN, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng theo quy định tại Điều 27, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Trần Thị X, sinh năm 1955 (Tên gọi khác Trần Thị S, sinh năm 1956); địa chỉ trước khi biệt tích: Thôn 01, MG, xã KG, huyện TN, thành phố Hải Phòng đã biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Thời hạn biết được tin tức cuối cùng về bà Trần Thị X là năm 1995. Mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự như đăng nhắn tin trên Báo Công Lý trong ba số liên tiếp là số 85, 86, 87 ngày đăng đầu tiên 26 tháng 10 năm 2022; đăng phát tin trên Đài tiếng nói Việt Nam ba lần trong ba ngày liên tiếp, phát lúc 17 giờ 30 phút các ngày 01, 02, 03 tháng 11 năm 2022 và đăng trên Cổng thông tin điện tử Thành phố Hải Phòng và Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao. Thời hạn thông báo là bốn tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên. Đến nay đã kết thúc thời hạn thông báo nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà Trần Thị X còn sống hay đã chết. Toà án xác định ngày có tin tức cuối cùng về bà Trần Thị X là ngày 01 tháng 01 năm 1996, tính đến nay bà Trần Thị X đã biệt tích 05 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng không có không có tin tức xác thực về việc bà Trần Thị X còn sống hay đã chết. Do vậy theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 và khoản 1, Điều 68 Bộ luật Dân sự có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của anh Đỗ Đăng L.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự như sau: Kể từ khi thụ lý việc dân sự Thẩm phán đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật, các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên họp chấp nhận yêu cầu của anh Đỗ Đăng L, tuyên bố bà Trần Thị X (tên gọi khác là Trần Thị S) là đã chết.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, anh Đỗ Đăng L phải nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 149, Điều 367, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:

- Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Đỗ Đăng L, tuyên bố bà Trần Thị X, sinh năm 1955 (tên gọi khác Trần Thị S, sinh năm 1956); địa chỉ trước khi biệt tích: Thôn 01, MG, xã KG, huyện TN, thành phố Hải Phòng là đã chết. Ngày chết xác định là ngày 02 tháng 01 năm 2001.

- Khi quyết định của Toà án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Đỗ Đăng L phải nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, anh Đỗ Đăng L đã nộp đủ tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0008235 ngày 18 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện TN, thành phố Hải Phòng.

- Quyền kháng cáo: Người yêu cầu, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

- Quyền kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.

- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ