vanban.org

Quyết định 04/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Tiên Lãng, TP. Hải Phòng Tuyên án 19/04/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1970; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã H, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng là đã chết.

Khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Vũ Thị N là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân và gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của bà N được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của bà N được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Miễn lệ phí giả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "tuyên bố chết K-N"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1970; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã H, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN LÃNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2023/QĐST-VDSTiên Lãng, ngày 19 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đỗ Thị Xuyến.

Thư ký phiên họp: Bà Ngô Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 30/2022/TLST-VDS ngày 11 tháng 11 năm 2022 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2023/QĐST-VDS ngày 04 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2023/QĐST-VDS ngày 11 tháng 4 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Vũ Văn K, sinh năm 1957, nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai, người yêu cầu (ông Vũ Văn K) trình bày: Em gái ông K là bà Vũ Thị N, sinh năm 1970, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã H, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Từ nhỏ, bà N bị bệnh, không được khôn ngoan nên không có chồng, con và sống cùng bố mẹ tại thôn V, xã H. Năm 1992, bà N bỏ nhà đi, không nói với gia đình là đi đâu, làm gì, từ đó đến nay không trở về, không báo tin gì về cho gia đình. Gia đình đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm nhưng không ai biết bà N ở đâu, còn sống hay đã chết. Do bà N đã biệt tích 30 năm và không có tin tức xác thực là bà N còn sống nên ông K yêu cầu Toà án tuyên bố bà Vũ Thị N là người đã chết.

Tài liệu xác minh tại gia đình và địa phương thể hiện: Bà Vũ Thị N đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn V, xã H, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Bà N bị bệnh nên không được khôn ngoan như người bình thường; không có chồng, con. Năm 1992, bà N bỏ đi, không trở về địa phương, không báo tin tức gì cho gia đình. Từ đó đến nay gia đình bà N đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm nhưng không có tin tức xác thực về việc bà N còn sống.

Quá trình giải quyết việc dân sự, Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng đã đăng, phát thông báo tìm kiếm đối với bà Vũ Thị N theo quy định tại Điều 385 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng Toà án vẫn không có tin tức gì của bà N.

Tại phiên họp, ông K trình bày kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án, đăng thông báo tìm kiếm đối với bà N, gia đình ông vẫn tiếp tục áp dụng các biện pháp tìm kiếm nhưng không có tin tức xác thực là bà N còn sống. Ông giữ nguyên yêu cầu Toà án tuyên bố bà N là người đã chết, không yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề tài sản.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý việc dân sự, thu thập chứng cứ, ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết và công bố thông báo theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; phiên họp được tiến hành đúng thời hạn và trình tự, thủ tục; người yêu cầu đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự. Về đường lối giải quyết: Kiểm sát viên đề nghị Thẩm phán căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 391, 392, 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Vũ Văn K, tuyên bố bà Vũ Thị N là người đã chết; không giải quyết vấn đề tài sản do đương sự không yêu cầu; miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho ông K theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng nhận định:

Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết là bà Vũ Thị N có nơi cư trú cuối cùng là thôn V, xã H, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng thụ lý, giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Vũ Thị N bỏ nhà đi biệt tích từ năm 1992 đến nay đã hơn 30 năm; mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực là bà Nguyệt còn sống. Xét thấy yêu cầu của ông K về việc tuyên bố bà N đã chết là có căn cứ, phù hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự nên cần được chấp nhận và tuyên bố bà N là người đã chết.

Tài liệu do đương sự cung cấp và do Toà án thu thập xác định thời điểm biết tin tức cuối cùng của bà N là năm 1992. Do không xác định được ngày tháng có tin tức cuối cùng nên căn cứ khoản 1 Điều 68, khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự, Toà án xác định ngày chết của bà N là ngày 01/01/1998.

Kể từ khi quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân và gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của bà N được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của bà N được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Về lệ phí: Ông K là người cao tuổi nên được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự; khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 và các điều 361, 367, 370, 371, 372, 391, 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Tuyên bố: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1970; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã H, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng là đã chết. Ngày chết của bà Vũ Thị N là ngày 01/01/1998.

Khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Vũ Thị N là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân và gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của bà N được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của bà N được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

- Miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho ông Vũ Văn K.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ