vanban.org

Quyết định 04/2023/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu của Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh D về việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Bùi Văn X và chị Vũ Thị T.

Chấp nhận yêu cầu của anh X, chị T: Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Văn X, sinh ngày 03/10/1972 và chị Vũ Thị T, sinh ngày 20/10/1973; Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện M, tỉnh D, kể từ thời điểm anh X đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật là ngày 03 tháng 10 năm 1992. Về lệ phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "UBND xã Hồng Phong, huyện Thanh Miện và anh Bùi Văn Xuyên, chị Vũ Thị Tám"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu của Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh D về việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Bùi Văn X và chị Vũ Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2023/QĐST-HNGĐ
“V/v yêu cầu hủy việc kết hôn
trái pháp luật và công nhận
quan hệ hôn nhân”
Thanh Miện, ngày 05 tháng 9 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đào Quang Khuyến.

Thư ký phiên họp: Ông Phạm Đình Lân -Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Diên - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tiến hành mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 04/2023/TLST-VDS, ngày 04 tháng 8 năm 2023 về việc “Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2023/QĐST-VDS ngày 22 tháng 8 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- UBND xã H, huyện M, tỉnh D.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn Kh- Chủ tịch UNDN xã H, huyện M, tỉnh D, có đơn đề nghị xin giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng thời là người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Bùi Văn X, sinh ngày 03/10/1972 và chị Vũ Thị T, sinh ngày 20/10/1973: Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện M, tỉnh D; Anh X, chị T, đều có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

UBND xã H, huyện M, tỉnh D có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện giải quyết việc dân sự về việc hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Bùi Văn X và chị Vũ Thị T vì xác định: Trong giấy chứng nhận kết hôn số 30 ngày 11 tháng 11 năm 1990 của UBND xã Tiền Phong, huyện Thanh Miện (nay là UBND xã H, huyện Thanh Miện), tỉnh Hải Dương, ghi anh Bùi Văn X, sinh năm 1968 kết hôn với chị Vũ Thị T, sinh năm 1967 không đúng với năm sinh của anh X, chị T, được thể hiện các tài liệu chính gồm: Giấy khai sinh, căn cước công dân, chứng minh thư nhân dân thì chị T đều là Vũ Thị T, sinh ngày 20/10/1973; anh X đều là Bùi Văn X, sinh ngày 03/10/1972. Như vậy tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 11/11/1990, chị T được 17 tuổi 21 ngày đủ tuổi đăng ký kết hôn. Anh X được 18 tuổi 01 tháng 8 ngày chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn.Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn”. Để đủ tuổi đăng ký kết hôn anh X, chị T đã khai tăng tuổi, anh X khai, sinh năm 1968 là không đúng với năm sinh thực tế của anh, nguyên nhân do cán bộ làm thủ tục đăng ký kết hôn chỉ căn cứ vào lời khai của anh X, chị T mà không kiểm tra, đối chiếu chặt chẽ cho chính xác dẫn đến việc đăng ký kết hôn trái pháp luật. Phát hiện việc đăng ký kết hôn và đã cấp giấy chứng nhận kết hôn cho anh Bùi Văn X và chị Vũ Thị T là trái pháp luật, đại diện UBND xã H, ông Trần Văn Kh, Chủ tịch UBND xã H, huyện M, tỉnh D có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh X, chị T; Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 30 ngày 11 tháng 11 năm 1990 của UBND xã Tiền Phong, huyện Thanh Miện (nay là xã Hồng Phong, huyện Thanh Miện), tỉnh Hải Dương đồng thời công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Văn X và chị Vũ Thị T kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn nếu anh X, chị T có yêu cầu.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng thời là người yêu cầu giải quyết việc dân sự anh X, chị T trình bày: Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tiền Phong, huyện Thanh Miện (Nay là xã Hồng Phong, huyện Thanh Miện), tỉnh Hải Dương ngày 11/11/1990. Anh X, chị T khi biết UBND xã H, huyện Thanh Miện có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, hủy việc kết hôn trái pháp luật đối với anh chị, anh chị cũng xác định việc kết hôn giữa anh và chị, thời điểm đăng ký kết hôn anh X chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn là vi phạm điều kiện kết hôn về độ tuổi, anh chị đồng ý với yêu cầu của UBND xã H, huyện Thanh Miện và không có ý kiến gì. Việc ghi anh Bùi Văn X, sinh năm 1968 trong Giấy chứng nhận kết hôn là do anh khai tăng tuổi để đủ điều kiện được đăng ký kết hôn, chị Vũ Thị T khai, sinh năm 1967. Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Bùi Tâm A, sinh ngày 30/4/2005. Hiện tại anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc, có 01 con chung, tài sản chung chỉ vì năm sinh của anh chị ghi trong giấy chứng nhận kết hôn không khớp nhau dẫn đến cuộc sống của anh chị và con bị ảnh hưởng trong việc thủ tục hành chính, vì vậy anh chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện công nhận quan hệ hôn nhân cho anh chị kể từ thời điểm anh X đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp và Thư ký phiên họp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện áp dụng: Khoản 6 Điều 3, Điều 8, 10, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu của UBND xã H, huyện M, tỉnh D.

Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Văn X, sinh ngày 03/10/1972 và chị Vũ Thị T, sinh ngày 20/10/1973, tại thời điểm anh chị đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật là ngày 03/10/1992.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: UNDN xã H, huyện M, tỉnh D không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.

Anh X, chị T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự nên phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền lệ phí anh chị đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương nhận định:

Về Thẩm quyền giải quyết: Anh Bùi Văn X và chị Vũ Thị T đều có nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện M, tỉnh D. UBND xã Tiền Phong (nay là xã Hồng Phong), huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương là nơi cấp Giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật cho anh X, chị T vì vậy UBND xã H, huyện Thanh Miện có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh X, chị T, căn cứ theo giấy chứng nhận kết hôn số 30 ngày 11 tháng 11 năm 1990 đã cấp cho anh X, chị T. Đồng thời yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân cho anh X, chị T từ thời điểm anh X đủ tuổi đăng kí kết hôn theo luật HNGĐ năm 1986. Anh X, chị T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương công nhận quan hệ hôn nhân của anh chị kể từ thời điểm anh Luật đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Căn cứ theo Điều 10, Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự việc Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền.

Về tố tụng: Người yêu cầu UBND xã H, ông Trần Văn Kh, đại diện theo pháp luật có đơn xin giải quyết vắng mặt. Anh Bùi Văn X, chị Vũ Thị T đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại phiên họp là phù hợp với quy định tại khoản 2,3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt họ.

Về nội dung: Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật (kèm theo Trích lục giấy chứng nhận kết hôn số 30, ngày 11/11/1990) của UNDN xã H, huyện M, tỉnh D và yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của anh X, chị T kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn là có căn cứ chấp nhận.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ gồm: Giấy khai sinh, Căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân của anh X, chị T đã có đủ căn cứ chứng minh tại thời điểm đăng ký kết hôn năm 1990, chị T, sinh ngày 20/10/1973 được 17 tuổi 21 ngày đủ tuổi đăng ký kết hôn. Anh X sinh ngày 03/10/1972 thời điểm đăng ký kết hôn được 18 tuổi 01 tháng 08 ngày chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn, do vậy anh X đã khai tăng tuổi, sinh năm 1968 để đủ tuổi đăng ký kết hôn. Do sơ suất trong việc kiểm tra lý lịch của cán bộ đăng ký kết hôn không kiểm tra giấy chứng minh nhân dân, Giấy khai sinh của anh X, chị T, UBND xã Tiền Phong, huyện Thanh Miện (Nay là xã Hồng Phong, huyện Thanh Miện), tỉnh Hải Dương đã đăng ký kết hôn cho anh X, chị T, tại Giấy chứng nhận kết hôn số 30 ngày 11 tháng 11 năm 1990; ghi họ và tên người vợ: Vũ Thị T, sinh năm 1967 không đúng với năm sinh thực tế của chị T là ngày 20/10/1973; họ và tên người chồng: Bùi Văn X, sinh năm 1968 không đúng với năm sinh thực tế của anh X là ngày 03/10/1972. Việc kết hôn đó đã vi phạm vào Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 1986. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, tại Điều 5 quy định: “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn”. Như vậy có đủ căn cứ xác định tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 11/11/1990 anh X chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn, việc UBND xã Tiền Phong, huyện Thanh Miện (Nay là xã Hồng Phong, huyện Thanh Miện), tỉnh Hải Dương đã đăng ký kết hôn cho anh X, chị T là trái với quy định của pháp luật. Do vậy UBND Hồng Phong, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương có đơn yêu cầu Tòa án Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện hủy việc kết hôn trái pháp luật là có căn cứ quy định tại Điều 5, 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Khoản 6 Điều 3, Điều 8, 10, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tại thời điểm yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, anh X, chị T đều xác định anh chị đã có đủ điều kiện kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc không có mâu thuẫn gì và có 01 con chung, tài sản chung nhưng vì ngày, tháng, năm sinh của anh chị không khớp nhau đã ảnh hưởng đến làm thủ tục hành chính của gia đình anh chị. Anh X, chị T đều thống nhất đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện công nhận quan hệ hôn nhân cho anh chị kể từ thời điểm anh X đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Yêu cầu công nhận hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, vì vậy không cần hủy việc kết hôn trái pháp luật mà công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Văn X và chị Vũ Thị T kể từ thời điểm anh Luật đủ điều kiện kết hôn là ngày 03/10/1992.

Ủy ban nhân dân xã H, huyện M có trách nhiệm ghi vào sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của anh X, chị T theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 31 Luật hộ tịch số 60/2014/QH13 ngày 20/11/2014.

Về con chung, tài sản chung, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Vũ Thị T, sinh ngày 20/10/1973, anh Bùi Văn X, sinh ngày 03/10/1972 được thể hiện trong giấy khai sinh, Căn cước công dân, Chứng minh thư nhân dân nhưng trong giấy chứng nhận kết hôn ghi Vũ Thị T, sinh năm 1967, anh Bùi Văn X, sinh năm 1968, anh chị đã có đơn đề nghị và được UBND xã H, huyện Thanh Miện xác nhận là của cùng một người.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự:

- UNDN xã H, huyện M, tỉnh D không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

- Anh Bùi Văn X, chị Vũ Thị T có đơn yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn nên phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; khoản 6 Điều 3, Điều 8, 10, 11, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;Điều 149, 370, 371 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Không chấp nhận yêu cầu của Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh D về việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Bùi Văn X và chị Vũ Thị T.

2. Chấp nhận yêu cầu của anh X, chị T: Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Văn X, sinh ngày 03/10/1972 và chị Vũ Thị T, sinh ngày 20/10/1973; Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện M, tỉnh D, kể từ thời điểm anh X đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật là ngày 03 tháng 10 năm 1992.

3. Về lệ phí:

- UNDN xã H, huyện M, tỉnh D không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

- Anh Bùi Văn X, chị Vũ Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng anh X, chị T đã nộp theo biên lai số: AA/2022/0001378 ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Anh X, chị T đã nộp đủ.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu UBND xã H, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng thời là người yêu cầu đều vắng mặt, có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày ra Quyết định.

Cỡ chữ