- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "bà Phạm Thị H yêu cầu tuyên bố Ông Bùi Gia Q(tên gọi khác: Bùi Xuân Q) đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị H, sinh năm 1957; Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2023/QĐST-DS | Quỳnh Phụ, ngày 29 tháng 9 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Phượng
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Đăng Hạnh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 5 năm 2023 về việc tuyên bố một người đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2023/QĐST-DS ngày 25 tháng 9 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Phạm Thị H, sinh năm 1957
Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Bùi Xuân T, sinh năm 1984
Địa chỉ: Khu L, phường 9, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
+ Anh Bùi Gia T1, sinh năm 1992
Địa chỉ: Số abc, đường Nguyễn Thị Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
(Bà H, anh T, anh T1 đều vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai, người yêu cầu là bà Phạm Thị H trình bày như sau:
Bà Phạm Thị H và ông Bùi Gia Q (tên gọi khác: Bùi Xuân Q), sinh năm 1956, địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình là vợ chồng, kết hôn vào tháng 5 năm 1979 (có đăng ký kết hôn nhưng do lưu trữ không cẩn thận nên đã mất giấy chứng nhận kết hôn). Quá trình chung sống, bà và ông Q sinh được 02 người con chung là anh Bùi Xuân T, sinh ngày 14/11/1984 và anh Bùi Gia T1, sinh ngày 28/7/1992. Ngoài ra không còn người con nào khác. Hai cụ thân sinh ra ông Q là cụ Bùi Gia T2 và cụ Trịnh Thị T3 đều đã chết.
Ông Bùi Gia Q bỏ nhà đi từ ngày 18/01/1992 (âm lịch), trước khi đi ông Q có nói với gia đình là lên Sơn Tây, Hà Nội để chữa mấy ca bệnh xã hội (vì ông Q từng là y sĩ của Viện Quân Y 105 Sơn Tây về phục viên tại địa phương từ ngày 01/01/1990). Kể từ ngày ông Q bỏ đi đến nay đã hơn 31 năm, ông Q không một lần nào liên lạc về gia đình, không ai biết ông Q đang ở đâu, làm gì. Năm 2022 cụ Bùi Gia T2(bố đẻ của ông Q) chết, ông Q cũng không trở về. Gia đình đã đi tìm kiếm, hỏi han nhiều nơi nhưng không thấy, không có tin tức xác thực nào là ông Q còn sống hay đã chết.
Nay để ổn định cuộc sống và đảm bảo quyền lợi của người thân, bà Phạm Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình tuyên bố ông Bùi Gia Q đã chết.
Các bản tự khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Xuân T, anh Bùi Gia T1 cũng như Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã An Vinh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đều có nội dung phù hợp với lời khai của bà Phạm Thị H. Các anh T, T1đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà H về việc tuyên bố ông Bùi Gia Q đã chết.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình có quan điểm cho rằng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc yêu cầu, Thẩm phán và những người tham gia tố tụng khác đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Phạm Thị H, bà H phải chịu chi phí đăng tin tìm kiếm ông Q, bà H được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ nhận định:
Về tố tụng:
Bà Phạm Thị H (là vợ của ông Bùi Gia Q) yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Bùi Gia Q đã chết là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Bùi Gia Q có nơi cư trú cuối cùng tại Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Phạm Thị H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các anh Bùi Xuân T, Bùi Gia T1 (02 con chung của bà H và ông Q) đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt họ là phù hợp với quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét yêu cầu của bà Phạm Thị H, thấy rằng: Căn cứ vào lời khai của người yêu cầu, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết quả điều tra, xác minh với chính quyền địa phương xã An Vinh và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ việc dân sự, có cơ sở xác định như sau:
Ông Bùi Gia Q có địa chỉ nơi cư trú cuối cùng tại: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Ngày 18/01/1992 (âm lịch) tức ngày 21/02/1992 (dương lịch) ông Q bỏ đi khỏi nơi cư trú không thông tin liên lạc về gia đình, địa phương. Gia đình và người thân của ông Q đã đi tìm kiếm nhiều nơi nhưng không thấy và không ai biết ông Q ở đâu.
Sau 31 năm kể từ ngày ông Q bỏ đi, ông Q vẫn không trở về và không có bất kỳ tin tức xác thực nào về việc ông Q còn sống.
Quá trình thụ lý, giải quyết, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 02/2023/QĐ-TA ngày 18/5/2023 đối với ông Bùi Gia Q trên Đài Tiếng nói Việt Nam và Báo Công Lý theo đúng quy định tại Điều 392 Bộ luật Tố tụng dân sự (cụ thể: đã đăng tin tìm kiếm trên báo Công Lý trong ba số báo liên tiếp là số 41 ngày 24/5/2023, số 42 ngày 26/5/2023 và số 43 ngày 31/5/2023; phát trên sóng VOV2 Đài tiếng nói Việt Nam 3 lần liên tiếp vào hồi 17 giờ 30 phút các ngày 29, 30, 31 tháng 05 năm 2023) song đến nay đã quá thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên (24/5/2023) vẫn không có tin tức gì của ông Bùi Gia Q.
Tại khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự quy định:
“1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người đã chết trong các trường hợp sau đây:
a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này”.
Do đó, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị H về việc tuyên bố ông Bùi Gia Q đã chết do ông Q đã biệt tích hơn 05 năm liền mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống.
Về việc xác định ngày ông Bùi Gia Q chết: Căn cứ khoản 1 Điều 68; điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự, ngày chết của ông Q được xác định là ngày đầu tiên kế tiếp ngày kết thúc thời hạn 05 năm kể từ ngày biết được tin tức cuối cùng của ông Q. Bà H trình bày ông Q bỏ nhà đi vào ngày 18/01/1992 (âm lịch) tức là ngày 21/02/1992 (dương lịch). Do đó, ngày kết thúc thời hạn 05 năm là ngày 21/02/1997 nên xác định ngày chết của ông Bùi Gia Q là ngày 22/02/1997.
Về chi phí, lệ phí:
Đối với chi phí cho việc đăng, phát Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết: Bà Phạm Thị H đã thanh toán xong nên không đặt ra giải quyết.
Về lệ phí: Bà Phạm Thị H là người cao tuổi (trên 60 tuổi) nên không phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị H, sinh năm 1957; Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
2. Tuyên bố: Ông Bùi Gia Q(tên gọi khác: Bùi Xuân Q, sinh năm 1956, nơi cư trú cuối cùng: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình đã chết.
Thời điểm chết của ông Bùi Gia Q được xác định là ngày 22/02/1997 (ngày hai mươi hai, tháng hai, năm một nghìn chín trăm chín mươi bảy).
3. Kể từ ngày Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ nhân thân của ông Bùi Gia Q được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
4. Về lệ phí: Bà Phạm Thị H được miễn nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định; Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ Tòa án ra Quyết định. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định./.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - VKSND huyện Quỳnh Phụ; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Người yêu cầu; - Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ và UBND xã A(khi quyết định có hiệu lực pháp luật); - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | Lê Thị Phượng |