- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Chị Trần Thị T và anh Trần Huy T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của Chị Trần Thị T và anh Trần Huy T về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị Tiến là đã chết.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2023/QĐST-DS | Đan Phượng, ngày 24 tháng 4 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: Tuyên bố một người đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Tuyết
- Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Toàn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 61/2022/TLST-DS ngày 02 tháng 12 năm 2022 về yêu cầu tuyên bố một người đã chết theo Quyết định mở phiên họp số: 05/2023/QĐST-VDS ngày 17 tháng 4 năm 2023.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Chị Trần Thị T, sinh năm 1980; Địa chỉ: Cụm 9, xã T, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; có mặt.
- Anh Trần Huy T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số nhà 17, ngách 1C/39, đường N12, Đồng Sậy, Phố Phan Đình Phùng, thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Chị Trần Thị T và anh Trần Huy T trình bày: Các anh chị là con của ông Trần Viết Sử và bà Nguyễn Thị Tiến. Năm 1991 ông Sử và bà Tiến đã ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Sau khi ly hôn bà Tiến về nhà bà Nguyễn Thị Tân (chị gái bà Tiến) ở thôn Thu Quế, xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội để sinh sống. Chị Tuyết và anh Trang sinh sống cùng với ông Trần Viết Sử ở phố Phan Đình Phùng, thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội. Năm 1993 bà Tiến bỏ nhà đi, gia đình đã tìm kiếm ở rất nhiều nơi, bằng nhiều con đường khác nhau nhưng vẫn không có tin tức của bà Nguyễn Thị Tiến. Năm 2018 chị Tuyết, anh Trang đã đăng báo 03 số liên tiếp trên báo Hà Nội mới để tìm bà Tiến nhưng không có thông tin của bà Tiến. Từ năm 1993 cho đến nay gia đình không có bất kỳ thông tin gì về bà Tiến.
Tại phiên họp, Chị Trần Thị T và anh Trần Huy T giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự, đề nghị Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Tiến là đã chết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký Tòa án; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thụ lý việc dân sự theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 68, 71 Bộ luật Dân sự; Điều 385, 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đề nghị Tòa án: Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của Chị Trần Thị T, anh Trần Huy T. Tuyên bố bà Nguyễn Thị Tiến, sinh năm 1955; Địa chỉ cư trú cuối cùng: Thôn Thu Quế, xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội là đã chết, kể từ ngày 01/01/1999. Chị Tuyết, anh Trang thực hiện việc đăng ký khai tử cho bà Tiến theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của bà Tiến (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Về lệ phí: Chị Tuyết và anh Trang phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội nhận định:
Chị Trần Thị T và anh Trần Huy T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Tiến đã chết.
Về yêu cầu của Chị Trần Thị T và anh Trần Huy T, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xét thấy. Trong quá trình giải quyết việc dân sự chị Tuyết và anh Trang cung cấp trích lục ly hôn năm 1991 của ông Trần Viết Sử và bà Nguyễn Thị Tiến, bản sao giấy khai sinh của chị Tuyết, anh Trang, đăng báo Hà Nội mới 03 số liên tiếp để tìm bà Tiến, đơn xin xác nhận của UBND xã Song Phượng. Sau khi nhận được đơn yêu cầu của chị Tuyết, anh Trang, Tòa án đã ra thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Theo đơn yêu cầu của chị Tuyết, anh Trang và giấy khai sinh cấp lại của chị Tuyết thì bà Nguyễn Thị Tiến, sinh năm 1958 nhưng theo giấy khai sinh của anh Trang bà Tiến sinh năm 1955.
Tòa án xác minh tại Công an huyện Đan Phượng, Công an xã Song Phượng, Công an thị trấn Phùng, trưởng thôn Thu Quế, xã Song Phượng, thân nhân gia đình của bà Tiến và hồ sơ ly hôn của bà Tiến và ông Sử thì có căn cứ xác định: Bà Nguyễn Thị Tiến, sinh năm 1955, Quê quán và địa chỉ cư trú cuối cùng ở Thôn Thu Quế, xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội, bà Tiến là con của cụ Nguyễn Duy Đường và cụ Tạ Thị Vĩnh (đã chết), bà Nguyễn Thị Tiến kết hôn với ông Trần Viết Sử và có hai con chung là Chị Trần Thị T và anh Trần Huy T. Năm 1991 bà Tiến ly hôn với ông Sử, sau khi ly hôn bà Tiến về sinh sống với bà Nguyễn Thị Tân (chị gái) ở thôn Thu Quế, xã Song Phượng, đến năm 1993 bà Tiến đi khỏi địa phương.
. Xét yêu cầu của Chị Trần Thị T và anh Trần Huy T yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị Tiến đã chết. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Tuyết và anh Trang, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng đã ra thông báo tìm kiếm bà Nguyễn Thị Tiến trên các phương tiện thông tin đại chúng: Đăng báo Nhân dân 03 số liên tiếp vào các ngày 14, 15, 16 tháng 12 năm 2022; Thông báo tìm kiếm trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 số liên tiếp vào các ngày 15, 16, 17 tháng 12 năm 2022; Đăng trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, nhưng kể từ khi thông báo tìm kiếm cho đến nay vẫn không nhận được tin tức gì của bà Nguyễn Thị Tiến. Nay Chị Trần Thị T và anh Trần Huy T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Tiến đã chết là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về ngày chết của bà Nguyễn Thị Tiến: Bà Tiến bỏ nhà đi từ năm 1993, nhưng không xác định được chính xác ngày, tháng bà Tiến bỏ đi. Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự, Tòa án xác định ngày bà Tiến mất tích là ngày 01/01/1994. Vì vậy xác định ngày bà Tiến chết là ngày 01/01/1999.
. Về lệ phí việc dân sự: Chị Trần Thị T và anh Trần Huy T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 27, Điều 39, các Điều 149, 361, 371, 372, 391 và Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự; Điều 37 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của Chị Trần Thị T và anh Trần Huy T về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị Tiến là đã chết.
Tuyên bố: Bà Nguyễn Thị Tiến, sinh năm 1955, nơi cư trú cuối cùng: Thôn Thu Quế, xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội đã chết. Bà Tiến chết ngày 01 tháng 01 năm 1999.
2. Khi quyết định có hiệu lực pháp luật, quan hệ về Hôn nhân gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Nguyễn Thị Tiến được giải quyết như đối với người đã chết.
3. Tài sản của bà Nguyễn Thị Tiến được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
4. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị T, anh Trần Huy T phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002981 ngày 02 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.
5. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị T, anh Trần Huy T có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Chi cục THADS huyện Đan Phượng, - VKSND huyện Đan Phượng, - UBND xã Song Phượng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Thị Tuyết |