vanban.org

Quyết định 04/2023/QĐ-PT — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo Quyết định đình chỉ của bà Lê Thị C1 đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 147/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương;

Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 147/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Án phí phúc thẩm: Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát hoàn trả cho bà Lê Thị C1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo theo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ vụ án"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo Quyết định đình chỉ của bà Lê Thị C1 đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 147/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương;
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ giải; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2023/QĐ-PTBình Dương, ngày 10 tháng 11 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Với thành phần Hội đồng phiên họp phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đoàn Hoài Trí.

Các Thẩm phán: Ông Cao Huy Cường;

Bà Lưu Thị Mỹ Hương.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên họp: Bà Bùi Phương Hợp - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Phan Văn Lợi - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 147/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023, Toà án nhân dân thị xã Bến Cát đã căn cứ vào điểm h khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân gia đình về việc “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn” giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Hồ Sỹ N (đã chết); địa chỉ thường trú: Thôn E, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N:

- Bà Hoàng Kim C, sinh năm 1935; địa chỉ thường trú: xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

Người đại diện hợp pháp của bà C: Ông Nguyễn Quý D, sinh năm 1962; địa chỉ thường trú: tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 10/02/2022).

- Bà Hồ Thị H, sinh năm 1988;

- Ông Hồ Sĩ T, sinh năm 1992;

Cùng địa chỉ thường trú: số A, ấp T, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

- Bà Lê Thị C1, sinh năm 1973;

- Cháu Hồ Sỹ Nhân Â, sinh ngày 07/8/2008;

Cùng địa chỉ thường trú: Thôn E, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo pháp luật cháu Â: Bà Lê Thị C1 (mẹ ruột cháu Â).

Người đại diện hợp pháp của bà C1: Ông Nguyễn Như H1, sinh năm 1970; địa chỉ thường trú: Buôn M, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ tạm trú: Thôn C, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 10/02/2022).

2. Bị đơn: Bà Phan Thị H2 (đã chết); địa chỉ: số A, ấp T, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà H2:

- Bà Hồ Thị H, sinh năm 1988;

- Ông Hồ Sĩ T, sinh năm 1992;

Cùng địa chỉ thường trú: số A, ấp T, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Hồ Thị H, sinh năm 1988;

- Ông Hồ Sĩ T, sinh năm 1992;

Cùng địa chỉ thường trú: số A, ấp T, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

Tại đơn kháng cáo ngày 02 tháng 8 năm 2023 bà Lê Thị C1 kháng cáo với lý do:

Ông Hồ Sỹ N và bà Phan Thị H2 là vợ chồng chung sống với nhau từ năm 1985 và có con chung là: Hồ Thị H, Hồ Sỹ T1. Năm 2013 ông N và bà H2 ly hôn theo Bản án số 07/2013/HNGĐ-ST ngày 04/4/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Ông N chung sống với bà Lê Thị C1 từ năm 2008 và có 03 con chung (trong đó có cháu Hồ Sỹ Nhân Â, sinh ngày 07/8/2008). Đến năm 2019 ông N và bà C1 đăng ký kết hôn.

Ngày 06/12/2018, ông N khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn với bà H2 đối với 02 thửa đất số 155 và 156 tờ bản đồ 14 có diện tích 10.435m2 (trong đó có 1002 đất ở) tọa lạc tại xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương do Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 089367 ngày 17/01/2000 đứng tên ông N. Vụ việc được Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát thụ lý vụ án số 43/2019/TLST-HNGĐ ngày 10/01/2019. Quá trình giải quyết thì bà H2 có đơn khởi kiện vụ án hành chính nên Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát tạm đình chỉ giải quyết vụ án thụ lý số 43/2019/TLST-HNGĐ ngày 10/01/2019. Sau đó ngày 21/7/2021 ông N bị bệnh chết, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát đã đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N là bà C (mẹ), bà C1 (vợ), và các con là chị H, anh T1, cháu  tham gia tố tụng. Đến ngày 31/01/2022 bà H2 chết, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát đã đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H2 là chị H, anh T1 (con bà H2) tham gia tố tụng.

Ngày 14/7/2023, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Hôn nhân gia đình số 147/2023/QĐST-HNGĐ đối với vụ án “Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn” thụ lý số 43/2019/TLST-HNGĐ ngày 10/01/2019 với lý do: “khi ông N và bà H2 chết thì quan hệ hôn nhân và gia đình đã chấm dứt và bắt đầu phát sinh quan hệ dân sự là thừa kế tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015” do đó căn cứ điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ vụ án.

XÉT THẤY:

Việc ông N khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn là 02 thửa đất số 155 và 156 tọa lạc tại xã A, thị xã B đối với bà H2 và được Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ việc, nguyên đơn (ông N) và bị đơn (bà H2) đều chết, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát đã xác định được những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, bị đơn và đã đưa những người này vào tham gia tố tụng là phù hợp. Tuy nhiên, cho rằng nguyên đơn và bị đơn đã chết thì quan hệ hôn nhân và gia đình đã chấm dứt nên ngày 14/7/2023 Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Hôn nhân gia đình số 147/2023/QĐST-HNGĐ đối với vụ án “Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn” giữa ông N và bà H2 là không đúng pháp luật. Bởi lẽ: mặc dù nguyên đơn và bị đơn đều đã chết, nhưng vẫn có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, bị đơn tham gia tố tụng, do đó Tòa án vẫn phải tiếp tục giải quyết vụ việc và phân chia tài sản theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với việc chia di sản thừa kế của nguyên đơn và bị đơn sẽ được giải quyết bằng một vụ việc khác nếu các đương sự có yêu cầu.

Vì vậy, việc Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát áp dụng điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết vụ việc nêu trên là không đúng pháp luật. Do đó, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 147/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo Quyết định đình chỉ của bà Lê Thị C1 đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 147/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương;

Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 147/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

2. Án phí phúc thẩm: Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát hoàn trả cho bà Lê Thị C1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo theo Biên lai thu số AA/2021/0012103 ngày 07/8/2023.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ