- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân và gia đình giữa chị Hà Thị Phương D và anh Hà Thanh D1"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Hà Thị Phương D. Cho
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ______________ Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 15 - 02 - 2023 V/v: Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Mai;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Nghị và Nguyễn Tuấn Anh.
- Thư ký phiên toà: Ông Tân Khải Nhân - Thư ký Toà án của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Đinh Xuân Tiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2022/QĐST-HNGĐ ngày 11/01/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị Phương D, sinh năm 1991;
(có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: khu 2A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Bị đơn: Anh Hà Thanh D1, sinh năm 1983 (vắng mặt);
Địa chỉ: khu M 2, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ
NỘI D VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện ngày 07/8/2022 và lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hà Thị Phương D trình bày:
- Về hôn nhân: Chị với anh Hà Thanh D1 tự nguyện kết hôn vào ngày 19/4/2018, có đăng ký tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại gia đình nhà chồng ở khu M 2, xã Đồng Sơn. Tình cảm vợ chồng thời gian đầu hòa thuận, nhưng sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Từ năm 2020, hai người đã sống ly thân, không ai quan tâm đến nhau nữa. Nguyên nhân, trong cuộc sống vợ chồng không có sự hòa hợp với nhau. Chị D đã về nhà bố mẹ ở tại khu 2A, xã T, huyện T và xác định tình cảm vợ chồng không còn, quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D1.
- Về con chung: Chị và anh D1 có 01 con chung là cháu Hà Thanh D2, sinh ngày 28/12/2018. Khi ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D2, chị không yêu cầu anh D1 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản chung, nợ chung, cho vay và công sức đóng góp: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2]. Phía Bị đơn, anh Hà Thanh D1:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh D1 đều vắng mặt nên không có quan điểm.
[3]. Quan điểm của đại diện gia đình anh Hà Thanh D1: Tại Biên bản lấy lời khai ngày 16/11/2022, ông Hà Công Ch (là bố đẻ anh D1) cho biết, anh D1 và chị D kết hôn năm 2018. Sau khi kết hôn, anh chị ở chung với gia đình ông. Quá trình chung sống anh D1 và chị D không hòa thuận, hạnh phúc; cả hai thường xuyên đi làm ăn xa. Từ năm 2020, chị D đã chính thức bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Anh D1 hiện nay đang ở với ông nhưng đi làm gỗ hai đến ba ngày mới về nhà. Ông đã nhận giấy báo của Tòa án thay cho anh D1 và giao lại cho anh D1; anh D1 biết việc Tòa án đang giải quyết việc chị D làm đơn xin ly hôn anh D1, nhưng anh D1 nói rằng do công việc bận nên không đến Tòa án làm việc được.
[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn đã chấp hành là đúng quy định của pháp luật; Bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Chị D và anh D1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung của vợ chồng không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn của vợ chồng không thể khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của chị D; cho chị D được ly hôn anh D1. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Thanh D2, anh D1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp. Đối với quan hệ về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp, Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị D phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị Hà Thị Phương D có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn anh Hà Thanh D1, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện T đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh D1, tuy nhiên anh D1 cố ý vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị D có đơn xin xét xử vắng mặt; anh D1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Tòa án nhân dân huyện T đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh D1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện T xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
. Về nội D vụ án.
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh D1 trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Ngày 19/4/2018, hai bên đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, chị D cho rằng vợ chồng không hòa thuận, hạnh phúc; thường xuyên có mâu thuẫn. Nguyên nhân là do kinh tế khó khăn, vợ chồng đều phải đi làm ăn xa mỗi người một nơi nên không tìm được tiếng nói chung dẫn đến cãi, chửi nhau. Chị và anh D1 đã chính thức ly thân từ năm 2020, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh D1 nên chị xin ly hôn để giải phóng cho nhau. Phía anh D1, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và Giấy báo nhưng cố tình trốn tránh không đến Tòa án để trình bày quan điểm.
Để thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị D và anh D1 Tòa án đã tiến hành xác minh tại khu dân cư, UBND xã Đ thấy rằng: Lời trình bày của chị D1 về tình trạng hôn nhân giữa chị và anh D1 là hoàn toàn đúng. Đại diện gia đình anh D1 là ông Hà Công Ch (là bố đẻ anh D1) cũng xác định anh D1 và chị D chung sống không hòa thuận hạnh phúc, từ năm 2020, chị D đã chính thức bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, hai bên không còn quan tâm đến nhau nữa.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị chị D và anh D1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; hai bên không hợp tác hòa giải và không có biện pháp khắc phục tình trạng hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D đối với anh D1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
2.2. Về con chung: Chị D và anh D1 có 01 con chung là cháu Hà Thanh D2, sinh ngày 28/12/2018. Khi ly hôn, chị D xin được nuôi cháu D2 và không yêu cầu anh D1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, chị D hiện nay là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu D2. Đại diện UBND xã Đ có ý kiến cho rằng, anh D1 không có việc làm ổn định nên đề nghị Tòa án giao con chung cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Mặt khác, anh D1 cố ý vắng mặt tại Tòa án, nên chưa có quan điểm về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của chị D là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khi chị D, anh D1 có yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con thì anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định của pháp luật.
2.3. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Nguyên đơn, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Bị đơn chưa có yêu cầu. Do vậy, Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết vụ án trong phạm vi khởi kiện. Khi chị D, anh D1 có yêu cầu thì anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.
2.4. Về án phí: Chị D là Nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
2.5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
2.6. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Hà Thị Phương D. Cho
chị Hà Thị Phương D được ly hôn anh Hà Thanh D1.
2. Về con chung: Giao cháu Hà Thanh D2, sinh ngày 28/12/2018 cho chị Hà
Thị Phương D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi thành niên.
Anh D1 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Hai bên
đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng:
Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hà Thị Phương D phải nộp 300.000 VNĐ (ba
trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị D đã nộp là 300.000
VNĐ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số: AA/2020/00007451 ngày
07/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Phú Thọ.
5. Về quyền kháng cáo: Chị D có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án; anh D1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
6. Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,
tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án
được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện T;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- THADS huyện T;
- UBND xã Đ;
(đã ký)
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA.
Nguyễn Thị Hồng Mai
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁM
Nguyễn Thị Hồng Mai
| Nơi nhận: - VKSND huyện T; - THADS huyện T; - UBND xã Minh Đài; - Các đương sự; - Lưu: HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hồng Mai |